“Vàng xanh” ở miền núi xứ Thanh
Đường lên vùng cao xứ Thanh quanh co như sợi chỉ vắt qua núi. Hai bên đường, rừng luồng, nứa, vầu xanh ngắt, thân thẳng đứng như những người lính gác. Với người dân miền núi, đó là “vàng xanh”, thứ cây giữ đất, giữ nước và tạo sinh kế. Có hộ nhờ vài héc-ta luồng mà lo được cái ăn, cái học cho con. Nhiều bản có thêm nguồn lực làm đường giao thông, xây nhà văn hóa.

Người dân xã Sơn Điện sơ chế nan thanh cung cấp cho thương lái thu mua.
Tại xã Tam Lư, gia đình ông Vi Văn Piên có 4ha rừng, trong đó 3ha trồng vầu. Thực hiện chủ trương của xã về phát triển rừng gắn với nâng cao thu nhập, ông Piên đi đầu trồng mới, khoanh nuôi bảo vệ và phục hồi diện tích vầu tái sinh. Ông cho biết, trồng vầu phải kiên trì, chăm rừng như chăm ruộng; đến mùa khai thác phải đúng thời điểm để cây tái sinh tốt. Năm 2025, giá vầu lên gần 300.000 đồng/tạ. Tính bình quân, mỗi lao động trong gia đình có thể làm khoảng 1 tạ nan thanh/ngày, nhờ vậy nguồn thu ổn định hơn so với trước đây.
Cùng câu chuyện sinh kế từ cây nứa, cây vầu, tại xã Na Mèo, hộ ông Mai Văn Năm được người dân nhắc đến như một trong những hộ có diện tích rừng vầu lớn nhất nhì xã. Với 35ha đất rừng nghèo kiệt, gia đình ông chuyển đổi sang trồng luồng, nứa, vầu. Nhờ được cán bộ nông nghiệp hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng sâu bệnh, rừng phát triển tốt. Theo tính toán của gia đình, mỗi năm trừ chi phí, thu nhập đạt hàng trăm triệu đồng. Điều quan trọng là rừng được chăm sóc, đất được giữ, người lao động có việc làm tại chỗ.
Ở xã Sơn Điện, giá luồng dịp cuối năm 2025 được thương lái thu mua khoảng 15.000 - 16.000 đồng/kg. Có thời điểm giá chạm 200.000 đồng/tạ đối với luồng; 280.000 đồng/tạ đối với nứa, vầu. Mức giá này cao hơn nhiều so với những năm trước, tạo thêm động lực cho người trồng rừng tập trung chăm sóc, khai thác theo hướng bền vững.
Sơn Điện là địa phương có diện tích rừng luồng, nứa, vầu lớn của huyện Quan Sơn trước đây, khoảng trên 4.000ha. Cây luồng, nứa, vầu được xác định là cây kinh tế mũi nhọn, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở địa phương. Cũng nhờ kinh tế rừng mà tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm đều hàng năm. Theo chuẩn nghèo đa chiều, năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo là 40,29%, đến hết năm 2025 giảm xuống dưới 20%. Chủ tịch UBND xã Sơn Điện, Phạm Văn Tình cho biết: “Phát triển cây chủ lực phù hợp điều kiện đất đai, khí hậu là hướng đi đúng, trúng. Bởi vậy, địa phương đã tập trung tuyên truyền để bà con chăm rừng luồng, nứa, vầu theo kỹ thuật, khai thác đúng chu kỳ, gắn trồng rừng với bảo vệ rừng, từ đó nâng thu nhập và giảm nghèo bền vững”.
Từ thực tiễn ở các địa bàn miền núi có thể thấy, “vàng xanh” chỉ thực sự phát huy giá trị khi có sự quản lý và liên kết chặt chẽ. Người dân cần giống tốt, kỹ thuật chăm sóc, đường lâm nghiệp thuận lợi và thị trường ổn định. Địa phương cần quy hoạch vùng nguyên liệu, hướng dẫn khai thác hợp lý để tránh chặt non, bán rẻ, làm kiệt rừng.
Thanh Hóa là địa phương có diện tích tre, luồng lớn nhất cả nước, khoảng 100.000ha, chiếm 50% diện tích rừng trồng toàn tỉnh. Diện tích tập trung ở các địa phương thuộc khu vực Quan Sơn, Quan Hóa, Lang Chánh, Bá Thước (cũ). Trung bình mỗi năm cung cấp khoảng 60 triệu cây giống và 80.000 tấn nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu. Trước đây, khoảng 55% sản lượng tre, luồng tiêu thụ qua cơ sở nhỏ lẻ trong tỉnh, sản phẩm chủ yếu là tăm, đũa, vàng mã hoặc đưa đi sơ chế ở tỉnh ngoài, giá trị gia tăng vì thế chưa cao.
Những năm gần đây, chế biến sâu được đẩy mạnh. Hiện tỉnh có khoảng 60 doanh nghiệp, cơ sở chế biến luồng. Mỗi năm, các cơ sở này bao tiêu khoảng 30 triệu cây luồng cho người dân. Nhiều cơ sở đầu tư công nghệ cắt, chẻ, vót, ép, hấp sấy, xử lý chống mối mọt. Sản phẩm tre luồng đa dạng hơn, từ ống hút, dao muỗng, bàn chải, hộp đựng, khay trang trí đến bàn ghế, nội thất...
Ngoài ra, nhiều sản phẩm tre, luồng đã vào được thị trường quốc tế, nhất là châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc. Điển hình như Công ty TNHH Vibabo ký hợp đồng dài hạn cung cấp ống hút tre, bộ đồ ăn tre, nội thất tre ép cho đối tác nước ngoài, với đơn đặt hàng hàng chục triệu ống hút mỗi năm, doanh thu khoảng 4 tỷ đồng/năm. Doanh nghiệp tạo việc làm ổn định cho 30 lao động, thu nhập khoảng 8 triệu đồng/người/tháng. Đây là hướng đi cho thấy nếu nâng chất lượng, chuẩn hóa sản phẩm, tre luồng có thể đi xa.
Tại xã Linh Sơn, Nhà máy sản xuất sản phẩm tre, luồng của Công ty CP Bamboo King Vina được xây dựng trên diện tích 15ha, trong đó 7,5ha là khu xưởng sản xuất. Nhà máy tập trung vào vật liệu xây dựng, ván ghép thanh, nội - ngoại thất và đồ gia dụng như khay, hộp đựng. Sản phẩm cung cấp cho nhiều đối tác lớn, trong đó có IKEA - Tập đoàn bán lẻ nội thất lớn nhất thế giới có trụ sở tại Thụy Điển. Hiện nhà máy giải quyết việc làm cho khoảng 250 lao động và đặt mục tiêu tuyển dụng 1.500 lao động khi chạy đủ công suất. Cùng với nhà máy, chuỗi hoạt động trồng, khai thác và cung ứng nguyên liệu sẽ tạo thêm nhiều việc làm gián tiếp tại địa phương và vùng phụ cận.
Ông La Quân Hoàng, Phó tổng Giám đốc
Bamboo King Vina cho biết: “Muốn nhà máy vận hành ổn định thì vùng nguyên liệu phải bền vững. Doanh nghiệp đang phối hợp với địa phương, HTX và hộ dân để chuẩn hóa quy trình khai thác, nâng chất lượng tre, luồng; đồng thời phát triển sản phẩm theo tiêu chuẩn thị trường, bảo đảm truy xuất nguồn gốc. Khi đầu ra ổn định, người trồng rừng yên tâm đầu tư, doanh nghiệp cũng chủ động kế hoạch sản xuất”.
“Vàng xanh” ở miền núi xứ Thanh vì thế không chỉ nằm ở diện tích rừng, mà nằm ở cách tổ chức chuỗi giá trị. Từ hộ trồng rừng, đến doanh nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ phải được kết nối. Khi rừng được chăm đúng kỹ thuật, khai thác đúng chu kỳ; khi doanh nghiệp đầu tư công nghệ và bao tiêu ổn định; khi địa phương quản lý tốt đất lâm nghiệp và hỗ trợ liên kết, tre luồng sẽ tiếp tục là cây làm giàu, đồng thời giữ đất, giữ nước và giữ sinh kế bền vững cho người dân.
Bài và ảnh: Gia Bảo





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu