Sức ép môi trường tại các đô thị trọng điểm
Những năm gần đây quá trình đô thị hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra mạnh mẽ, khẳng định vai trò chủ lực trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, quá trình phát triển của các đô thị cũng tạo nên những áp lực không nhỏ đối với môi trường.

Nhân viên Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa thu gom rác thải bảo vệ cảnh quan, môi trường các tuyến đường trên địa bàn phường Hạc Thành.
Theo đánh giá từ ngành chức năng, môi trường ở một số địa phương như phường Hạc Thành, phường Sầm Sơn, phường Nghi Sơn, phường Bỉm Sơn... đang bị tác động bởi quá trình đô thị hóa, trong đó có tình trạng ô nhiễm bụi, ô nhiễm nguồn nước mặt, hoạt động dân sinh... Kết quả quan trắc, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường của ngành chức năng gần đây cho thấy, ô nhiễm bụi tiếp tục là vấn đề nổi cộm tại các đô thị, nhất là các đô thị lớn như phường Hạc Thành, phường Nghi Sơn... Mức ô nhiễm bụi cao, xuất hiện liên tục theo đợt vào các tháng mùa đông, ít mưa (tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau). Diễn biến nồng độ bụi cũng thay đổi theo quy luật ngày, trong tuần, thể hiện rõ nhất tại khu vực gần trục giao thông, khu vực sản xuất công nghiệp nội thị hay tại khu vực đang xây dựng cầu đường hoặc xây dựng dân dụng. Trên các tuyến đường giao thông nội đô số lượng phương tiện tham gia giao thông lớn, nhất là vào giờ cao điểm là nguyên nhân làm cho nồng độ các chất ô nhiễm không khí tăng cao. Tại các khu công trường xây dựng cũng diễn ra tình trạng ô nhiễm bụi cục bộ. Nguyên nhân chính là do việc phát tán chất thải trong quá trình xây dựng, vận chuyển nguyên vật liệu...
Cùng với ô nhiễm bụi, các đô thị trên địa bàn tỉnh cũng đang chịu sức ép bởi hoạt động dân sinh như phát sinh chất thải rắn sinh hoạt, nước sinh hoạt. Theo ước tính, khu vực đô thị trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thải ra môi trường 1.666,2 tấn chất thải rắn/ngày. Trong đó, phường Hạc Thành có lượng phát sinh khoảng 187 tấn/ngày, phường Sầm Sơn khoảng 99,87 tấn/ngày (số liệu thống kê năm 2025)... Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chủ yếu gồm rác thải hữu cơ, thức ăn dư thừa, các loại bao bì nhựa, chất thải nhựa. Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt lớn, song tỷ lệ được xử lý đúng kỹ thuật, hợp vệ sinh môi trường vẫn còn thấp. Đặc biệt, công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị hiện nay tập trung chủ yếu là chôn lấp và đốt. Trong khi đó, phần lớn các bãi rác tiếp nhận chất thải rắn đô thị đều chưa bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường, thường trong tình trạng quá tải gây ô nhiễm tới môi trường đất, nước, không khí khu vực lân cận, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe và đời sống cộng đồng dân cư xung quanh như bãi rác thải ở phường Sầm Sơn, bãi rác thải ở phường Bỉm Sơn...
Ngoài ra, hoạt động sản xuất công nghiệp ở các đô thị cũng có những tác động nhất định đến môi trường, nhất là hoạt động của các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, các làng nghề trong khu vực đô thị. Hoạt động của các cơ sở này thường là quy mô nhỏ, hộ gia đình, do đó việc thu gom, xử lý chất thải thường được thực hiện cùng với chất thải sinh hoạt. Nước thải tại các cơ sở này thường không được xử lý và thải trực tiếp vào đường ống thoát nước chung của khu vực, dẫn tới gây ô nhiễm nguồn nước. Cùng với đó, công nghệ sản xuất thủ công, không có hoặc rất hạn chế về công nghệ xử lý khí thải, thải ra môi trường một lượng lớn khí CO, CO2... Điều này ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan môi trường cũng như đời sống của người dân trong đô thị.
Hiện nay, hành lang pháp lý để kiểm soát, quản lý chất lượng môi trường, trong đó có môi trường đô thị tương đối đầy đủ, từ luật đến nghị định, thông tư và các văn bản chỉ đạo điều hành, hướng dẫn. Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường tại một số đô thị lớn vẫn là vấn đề đáng lo ngại. Trong khi đó việc kiểm soát nguồn thải gặp nhiều khó khăn do chủ thể nguồn thải thuộc nhiều ngành, lĩnh vực như giao thông vận tải, xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp, hoạt động dân sinh...
Bài và ảnh: Lê Phong





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu