Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975: Từ mục tiêu thống nhất đến khát vọng vươn mình
Sau 21 năm cả nước thực hiện kháng chiến chống Mỹ, ngày 30/4/1975 trở thành mốc son chói lọi thể hiện quyết tâm đập tan chính quyền, quân đội Sài Gòn, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến dịch Hồ Chí Minh - Chiến dịch quyết chiến chiến lược trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. (Nguồn: TTXVN)
1. Chiến tranh đã qua đi 50 năm, nhưng dư âm của chiến thắng vẫn còn đó. Đất nước đã hoàn toàn thống nhất, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Hơn 50 năm cũng là khoảng thời gian đủ dài để người Việt Nam hiểu về những giá trị của đại thắng mùa xuân năm 1975.
Đánh giá về những “nhân tố” tạo nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, bên cạnh những điều kiện khách quan và chủ quan, yếu tố “nhân hòa” nổi lên như một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là một điển hình tiêu biểu của chiến tranh Nhân dân trong thế kỷ XX. Đây là cuộc đối đầu mang tính lịch sử giữa một dân tộc tuy nhỏ bé về quy mô nhưng có ý chí kiên cường, tinh thần đoàn kết và quyết tâm chiến đấu cao độ, với một cường quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ vượt trội, đó là Mỹ. Với tham vọng ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản và xây dựng “pháo đài tự do” tại khu vực Đông Nam Á, Mỹ đã huy động tối đa nguồn lực cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, yếu tố “nhân hòa” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, phản ánh sự hội tụ và phát huy sức mạnh của con người trong chiến tranh. Không chỉ góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh Nhân dân, “nhân hòa” còn tác động trực tiếp đến quá trình chuyển biến tương quan lực lượng theo hướng có lợi cho cách mạng. Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 yếu tố này đã phát huy vai trò then chốt, góp phần bảo đảm cho việc nắm bắt thời cơ, tổ chức lực lượng và triển khai tiến công một cách nhanh chóng, hiệu quả, qua đó đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Việc kịp thời điều chỉnh kế hoạch giải phóng miền Nam đã tạo nên bước ngoặt. Ban đầu, chủ trương đặt ra là hoàn thành giải phóng vào mùa khô năm 1976. Tuy nhiên, trước sự chuyển biến nhanh chóng của cục diện chiến trường và những thời cơ thuận lợi liên tiếp xuất hiện, Đảng đã đi đến quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975. Quyết định này thể hiện sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của tập thể lãnh đạo, đồng thời là biểu hiện điển hình của yếu tố “nhân hòa” ở tầm chiến lược. Trên cơ sở đó, với phương châm chỉ đạo tác chiến “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, các lực lượng cách mạng đã nhanh chóng phát triển tiến công, tiến tới giải phóng Sài Gòn, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang của dân tộc. Đó cũng là minh chứng cho sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết dân tộc thời đại Hồ Chí Minh; là chân lý bất diệt: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi".
Nhưng, có cuộc chiến tranh nào mà không tổn thất. Hiểu được những giá trị của hòa bình, của thống nhất non sông cũng là lúc chúng ta thấm thía hơn những mất mát. Trong suốt hơn hai thập kỷ thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Nhân dân Việt Nam đã phải chịu đựng tổn thất vô cùng lớn, nhất là về con người. Có khoảng 1,1 triệu chiến sĩ hy sinh và khoảng 600.000 bộ đội và quân tình nguyện bị thương. Ước tính gần 2 triệu dân thường ở cả hai miền thiệt mạng, cùng hàng triệu người khác chịu di chứng do chất độc da cam và bom mìn. Khoảng 3,06 triệu héc-ta diện tích đất tự nhiên bị nhiễm độc, trong đó phần lớn là rừng đầu nguồn và rừng ngập mặn.
Riêng ở miền Bắc, các đợt ném bom dữ dội của quân Mỹ đã phá hủy gần như toàn bộ hệ thống giao thông, nhà máy, trường học và bệnh viện; Hệ thống đê điều, đập nước và các công trình thủy lợi quan trọng bị trúng bom, gây lũ lụt và ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất lương thực.
Ước tính sau năm 1975, nền kinh tế và hạ tầng của Việt Nam đã bị kéo lùi nhiều thập kỷ do sự tàn phá khốc liệt của bom đạn. Tất cả sự “đánh đổi” ấy để có được một Việt Nam thống nhất toàn vẹn lãnh thổ vào mùa xuân năm 1975.
2. Góp một phần công sức vào chiến thắng đế quốc Mỹ, những người dân làng Đông Sơn, phường Hàm Rồng, đến nay, sau hơn 60 năm vẫn không quên những ngày tháng hào hùng để giữ tọa độ lửa, giữ mạch giao thông từ Bắc vào Nam. Tôi gặp các bà Lương Thị Thơ (1936), Lương Thị Quê (1940), Lương Thị Thảo (1948) được nghe các bà kể chuyện những ngày thay pháo thủ, tiếp đạn, tải lương. Ở trên đỉnh đồi Quyết thắng, bộ đội sẵn sàng chiến đấu, còn ở phía dưới, người dân làng Đông Sơn vừa làm ruộng, trồng sắn, vừa chờ lệnh của đồng chí Khu đội trưởng Khu đội dân quân. Với 3 bà, kết thúc chiến tranh mỗi người một số phận. Bà Lương Thị Thơ thì vẫn mong ngóng ngày chồng đi chiến đấu ở mặt trận phía Nam trở về. Bà Lương Thị Thảo sau khi lập gia đình đã chuyển ra Hà Nội sinhh sống. Riêng bà Lương Thị Quê một mình chông chênh với nỗi cô đơn... Đến nay khi tuổi đã cao, các bà lại gần kề nhau, ôn lại chuyện cũ, động viên nhau trong cuộc sống. Và không một lời than vãn, đối với các bà, tuổi thanh xuân được cống hiến cho đất nước là điều tự hào nhất.
Tinh thần đoàn kết ấy không chỉ có ở các cá nhân, hay trong từng làng kháng chiến mà đã là truyền thống của cả dân tộc. Lịch sử đã chứng minh dân tộc Việt Nam chưa từng lùi bước trước gian nan, khó khăn, thách thức. Chính sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là “nhân tố” quan trọng nhất để làm nên những chiến công vĩ đại trong quá khứ và sẽ tiếp tục là nền tảng vững chắc để đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao như mục tiêu mà Nghị quyết đại hội XIV của Đảng đề ra.
Ở quy mô cấp tỉnh, Thanh Hóa đang bước vào giai đoạn phát triển mang tính bản lề, được dẫn dắt bởi tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025–2030. Nghị quyết không chỉ đóng vai trò “kim chỉ nam” mà còn là lời hiệu triệu mạnh mẽ, định hướng Thanh Hóa vươn lên trở thành “cực tăng trưởng mới” của Bắc Trung bộ.
Mục tiêu chiến lược được xác định rõ ràng là đến năm 2030, tỉnh Thanh Hóa nằm trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước, trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại; tầm nhìn đến năm 2045 là tỉnh giàu đẹp, văn minh, hạnh phúc, một trong những trung tâm lớn của cả nước và khu vực trên nhiều lĩnh vực trọng yếu.
Đằng sau khát vọng đó là các chỉ tiêu phát triển đầy thách thức, đòi hỏi sự quyết tâm và đồng bộ cao của toàn hệ thống chính trị, trong đó tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức 11% trở lên, GRDP bình quân đầu người đạt 7.900 USD trở lên vào năm 2030.
Đường lớn đã mở. Mỗi người dân, mang trong mình một quyết tâm lớn. Với cương vị là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi thực hiện nghi lễ tuyên thệ đã khẳng định: Trọng tâm hàng đầu là quán triệt sâu sắc, thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, huy động sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là Nhân dân được thụ hưởng thành quả của phát triển”.
Từ cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 với khát vọng thống nhất non sông đến kỷ nguyên mới mà chúng ta đang bước tới – với công nghệ trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát triển bền vững, đó là hành trình dài của niềm tin, khát vọng của cả một dân tộc. Để chúng ta, mỗi công dân Việt Nam đều tin rằng, những chương mới trong giai đoạn tới sẽ được viết tiếp thật rực rỡ, từ ý chí sắt đá và bản lĩnh kiên cường, với chân lý “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”.
Kiều Huyền





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu