Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc quản lý mã số vùng trồng
Sáng 15/5, đồng chí Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc quản lý mã số vùng trồng (MSVT), cơ sở đóng gói (CSĐG) và công tác kiểm nghiệm nông sản xuất khẩu.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Cường cùng các đại biểu tham dự tại điểm cầu Thanh Hóa.
Tham dự tại điểm cầu Thanh Hóa có đồng chí Cao Văn Cường, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các ngành có liên quan và các doanh nghiệp, HTX sản xuất, chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh.

Các đại biểu tham dự tại điểm cầu Thanh Hóa.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến tháng 5/2026, toàn quốc có 9.546 MSVT phục vụ xuất khẩu, 1.525 mã số CSĐG phục vụ xuất khẩu cho các loại quả tươi (thanh long, xoài, vú sữa, chuối, bưởi, chanh leo, chanh không hạt, nhãn, vải, ớt, thạch đen...) được phép xuất khẩu sang thị trường các nước: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Trong quá trình triển khai thực hiện, vẫn còn nhiều MSVT, CSĐG nhận được các cảnh báo không tuân thủ của nước nhập khẩu, đặc biệt là từ Trung Quốc. Chỉ từ năm 2025 đến nay, đã có 403 MSVT và 240 mã số CSĐG nhận được cảnh báo không tuân thủ từ phía Trung Quốc. Trong số đó, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã thông báo tạm dừng/thu hồi 167 MSVT và 99 mã số CSĐG sang thị trường này, đến nay vẫn chưa được phục hồi trở lại.
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, việc quản lý MSVT, CSĐG vẫn bộc lộ không ít hạn chế. Tại một số địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất, nhận thức về vai trò của MSVT, CSĐG chưa đầy đủ, còn xem đây là điều kiện phục vụ xuất khẩu trước mắt, thiếu chú trọng duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật và tuân thủ bền vững theo yêu cầu thị trường nhập khẩu. Tình trạng chạy theo số lượng, tập trung “được cấp mã” nhưng lơ là việc duy trì điều kiện sau cấp mã vẫn diễn ra khá phổ biến. Việc ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc, quản lý sinh vật gây hại ở nhiều nơi còn mang tính hình thức. Trong khi đó, năng lực quản lý, kiểm tra, giám sát tại cơ sở còn hạn chế do thiếu nhân lực chuyên môn, kinh phí và trang thiết bị. Tình trạng sử dụng sai mã số, mượn hoặc cho thuê mã số, không bảo đảm điều kiện kỹ thuật, vi phạm quy định về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến uy tín nông sản xuất khẩu Việt Nam.
Cùng với đó, yêu cầu kỹ thuật của các thị trường nhập khẩu liên tục thay đổi, ngày càng khắt khe, gây áp lực lớn cho cơ quan quản lý và người sản xuất trong việc thích ứng. Sản xuất nhỏ lẻ, liên kết chuỗi thiếu chặt chẽ cũng khiến công tác giám sát, truy xuất nguồn gốc và duy trì ổn định điều kiện kỹ thuật gặp nhiều khó khăn, nhất là với các ngành hàng phát triển nóng như sầu riêng.

Các đại biểu tham dự tại điểm cầu Thanh Hóa.
Tại Thanh Hóa, với sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cùng với sự đồng thuận của các doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân, công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 193 mã số vùng trồng với diện tích trên 1.713 ha, trong đó có 72 mã số phục vụ xuất khẩu và 121 mã số phục vụ tiêu thụ nội địa; góp phần nâng cao giá trị nông sản, mở rộng thị trường tiêu thụ và từng bước xây dựng thương hiệu nông sản Thanh Hóa.
Thảo luận tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung phân tích những thuận lợi khó khăn, vướng mắc trong việc quản lý MSVT, CSĐG và công tác kiểm nghiệm nông sản xuất khẩu. Nhiều ý kiến nhấn mạnh việc phân cấp, trách nhiệm quản lý MSVT, CSĐG cho địa phương nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật và đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu kết luận hội nghị.
Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, nhấn mạnh: Việc quản lý MSVT, mã số CSĐG không chỉ phục vụ yêu cầu xuất khẩu trước mắt mà phải hướng tới xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững. Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm, nếu không quản lý chặt chẽ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, thương hiệu nông sản Việt Nam.
Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống quy định, hướng dẫn kỹ thuật về cấp, quản lý và giám sát MSVT, CSĐG theo hướng thống nhất trên phạm vi cả nước, phù hợp yêu cầu của thị trường nhập khẩu và thông lệ quốc tế. Trọng tâm là triển khai hiệu quả Nghị định số 38/2026/NĐ-CP; chuyển mạnh từ tư duy “cấp mã số” sang “duy trì mã số”, tăng cường hậu kiểm, giám sát định kỳ và đột xuất đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số. Đồng thời, xử lý nghiêm các hành vi mua bán, cho thuê, sử dụng trái phép mã số, gian lận hồ sơ hoặc không duy trì điều kiện kỹ thuật theo quy định.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về MSVT, CSĐG và cảnh báo vi phạm theo hướng tập trung, liên thông từ Trung ương đến địa phương; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, nhật ký điện tử trong quản lý vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đồng thời, chủ động duy trì cơ chế trao đổi kỹ thuật với cơ quan chức năng các nước nhập khẩu để cập nhật kịp thời quy định mới, xử lý nhanh các cảnh báo vi phạm, mở rộng thị trường xuất khẩu và giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.

Các đại biểu tham dự tại điểm cầu Thanh Hóa.
Nhấn mạnh vai trò của địa phương, Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương cần kiện toàn bộ máy quản lý chuyên môn, bố trí đủ nhân lực, kinh phí, trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, giám sát; tăng cường gặp gỡ, tuyên truyền, tập huấn HTX, doanh nghiệp và người dân nhằm thay đổi nhận thức từ “được cấp mã số” sang “duy trì mã số bền vững”; đồng thời xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng vùng nguyên liệu, cơ sở đóng gói, chuyển đổi số và nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu xuất khẩu trong giai đoạn mới. Các địa phương chỉ đạo các cơ sở kiểm nghiệm thuộc phạm vi quản lý, tăng cường năng lực; kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm đối với các cơ sở kiểm nghiệm trên địa bàn có hành vi gây khó khăn, chậm trễ, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ theo quy định.
Lê Hợi





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu