Nhiều khó khăn trong dạy và học tiếng Anh ở vùng cao
Quyết định số 2371/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045” được kỳ vọng tạo bước chuyển trong nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh, từng bước hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh trong trường học. Tuy nhiên, tại khu vực miền núi Thanh Hóa quá trình hiện thực hóa mục tiêu này vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và điều kiện học tập.

Mặc dù Trường THCS Linh Sơn, xã Linh Sơn được đầu tư phòng học đặc thù nhưng lại thiếu trang thiết bị phục vụ giảng dạy bộ môn tiếng Anh.
“Nút thắt” từ đội ngũ giáo viên
Tại nhiều trường học vùng cao, thiếu giáo viên tiếng Anh vẫn là khó khăn lớn nhất trong quá trình triển khai đề án. Ở Trường Tiểu học Pù Nhi, xã Pù Nhi, nhà trường hiện có 14 lớp nhưng chỉ bố trí được 2 giáo viên tiếng Anh. Với lực lượng giáo viên mỏng, việc tổ chức dạy học tăng cường hoặc phân hóa theo năng lực học sinh gần như chưa thể thực hiện. Giáo viên phải phụ trách nhiều lớp nên quỹ thời gian đầu tư chuyên sâu cho từng tiết dạy còn hạn chế.
Tình trạng này cũng diễn ra tại nhiều trường học khác trên địa bàn miền núi. Tại Trường Tiểu học Linh Sơn, xã Linh Sơn, nhà trường có 418 học sinh với 2 giáo viên tiếng Anh, nhưng một giáo viên phải dạy liên trường. Trong khi đó, Trường THCS Linh Sơn nhiều năm qua cũng thiếu giáo viên tiếng Anh, đến đầu năm học 2025-2026 mới được bổ sung thêm 1 giáo viên hợp đồng để cơ bản đáp ứng yêu cầu giảng dạy.
Theo thầy giáo Lê Xuân Hùng, Hiệu trưởng Trường THCS Linh Sơn, khó khăn hiện nay không chỉ nằm ở số lượng giáo viên mà còn ở chất lượng dạy ngoại ngữ chưa đồng đều. Đây là chủ trương đúng và cần thiết, nhưng với các trường vùng cao cần có lộ trình phù hợp. Nhà trường sẽ tạo điều kiện để giáo viên học tập, nâng cao trình độ ngoại ngữ, song cũng cần có hướng dẫn và mô hình triển khai phù hợp từ ngành giáo dục.
Không chỉ thiếu giáo viên, việc dạy và học tiếng Anh ở vùng cao còn gặp nhiều trở ngại do đặc thù học sinh chủ yếu là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều em gặp khó khăn ngay từ quá trình chuyển tiếp ngôn ngữ, từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng Việt rồi mới tiếp cận tiếng Anh. Việc thiếu môi trường giao tiếp thường xuyên khiến kỹ năng nghe và nói khó hình thành phản xạ tự nhiên. Em Hơ Minh Bảo, học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Pù Nhi chia sẻ: “Em rất thích học tiếng Anh nhưng kỹ năng nghe còn hạn chế do ít có điều kiện tiếp xúc với ngoại ngữ ngoài giờ học. Khi cô mở video hay trò chơi tiếng Anh trên điện thoại, máy tính thì em dễ hiểu và nhớ bài hơn”.
Thực tế cho thấy, đối với học sinh vùng dân tộc thiểu số, phương pháp học trực quan thông qua hình ảnh, âm thanh, trò chơi hoặc giao tiếp đơn giản sẽ phù hợp hơn cách học nặng về ngữ pháp. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả những phương pháp này, giáo viên cần được tập huấn chuyên sâu, đồng thời có thêm môi trường học tập và thực hành ngoại ngữ phù hợp với điều kiện thực tế.
Thiếu đồng bộ về cơ sở vật chất
Bên cạnh khó khăn về nhân lực, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ dạy và học ngoại ngữ tại nhiều trường học ở miền núi vẫn còn thiếu thốn, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy. Tại Trường Tiểu học Pù Nhi, điểm trường chính mới có 2/11 lớp được trang bị tivi; ở các điểm lẻ chỉ có 2/3 lớp có thiết bị hỗ trợ dạy học. Thiếu phương tiện nghe nhìn khiến giáo viên khó tổ chức các tiết học trực quan, sinh động - yếu tố đặc biệt quan trọng đối với việc học ngoại ngữ ở lứa tuổi tiểu học.
Cô giáo Vi Thị Lan, giáo viên tiếng Anh của trường cho biết: "Học sinh vùng cao thường hào hứng với các hoạt động giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh, đặc biệt khi được học qua hình ảnh và âm thanh. Tuy nhiên, nếu thiếu điều kiện hỗ trợ thì hiệu quả dạy học sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. Nếu có thêm thiết bị trực quan, âm thanh, hình ảnh và phương pháp phù hợp thì các em tiếp thu tốt hơn. Nhưng hiện nay nhiều lớp vẫn thiếu thiết bị tối thiểu phục vụ dạy học ngoại ngữ”.
Tại Trường THCS Linh Sơn, điều kiện phục vụ dạy học tiếng Anh cũng còn hạn chế. Hiện nhà trường mới có 1 loa kéo và 2 bộ máy tính phục vụ giảng dạy; nhiều thiết bị đặc thù như máy nghe, học liệu điện tử chưa được đầu tư đầy đủ. Theo thầy Lê Xuân Hùng, có những hạng mục như phòng học, bàn ghế đã được đầu tư nhưng thiết bị đi kèm lại chưa đồng bộ nên hiệu quả khai thác còn hạn chế. Trong khi nhiều học sinh ở khu vực thuận lợi có điều kiện tiếp cận tiếng Anh qua internet, thiết bị số và các hoạt động ngoại khóa, thì ở nhiều xã vùng cao, việc học ngoại ngữ của học sinh vẫn chủ yếu gói gọn trong vài tiết học trên lớp. Thiếu môi trường sử dụng thường xuyên khiến kỹ năng nghe, nói khó được cải thiện rõ rệt.
Qua trao đổi các giáo viên cho rằng, việc triển khai đề án ở khu vực miền núi không chỉ đơn thuần là tăng thêm tiết học tiếng Anh mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ đội ngũ giáo viên, phương pháp giảng dạy đến điều kiện cơ sở vật chất. Theo tinh thần của đề án, việc triển khai sẽ được thực hiện theo lộ trình phù hợp với điều kiện từng vùng miền, không áp dụng cứng nhắc. Tuy nhiên, để tiếng Anh thực sự trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học ở khu vực miền núi, nếu không sớm triển khai sẽ rất khó để bắt nhịp.
Bài và ảnh: Đình Giang





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu