Hội thề của khát vọng độc lập, tự chủ
Hội thề Lũng Nhai và hội thề Đông Quan diễn ra đã trên dưới 600 năm, nhưng khúc ca khát vọng độc lập tự chủ còn ngân vang đến tận hôm nay, thể hiện truyền thống yêu nước và ý chí tự lực tự cường của dân tộc Việt Nam.

Nghi môn Lam Kinh - “kinh đô tưởng niệm”, nơi thờ tự, tôn vinh các vị vua và hoàng hậu triều Lê, Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.
Lũng Nhai tụ nghĩa
Không ngẫu nhiên một khu vực rộng lớn nơi miền Tây xứ Thanh có tên là Lam Sơn. Nơi đây, xưa là những rừng chàm, lá cây tạo ra một màu lam dùng để nhuộm vải, vì thế không chỉ có núi Lam Sơn (núi Lam), mà còn có làng Lam Sơn... Trên mảnh đất này, bóng dáng Lê Lợi với “thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, nhịp bước như hổ” (Đại Việt sử ký toàn thư) đã bao trùm. Lựa chọn núi Lam Sơn, bởi ông thấy được linh khí của nơi “sơn cùng thủy cốc”, bởi ông có khát vọng “không chịu làm tôi tớ cho bọn giặc tàn ngược”, mà quyết tâm “phải cứu nạn lớn, lập công to, lưu lại tiếng thơm ngàn năm sau, sao lại chịu hèn nhát để cho người sai khiến”.
Tiếng thơm ấy đã thu hút bao người cùng tới tụ nghĩa.
Buổi sáng mùa xuân năm Bính Thân (1416) tại làng Lũng Nhai (tức Lũng Mi, hay còn gọi theo tên nôm là làng Mé, thuộc xã Ngọc Phụng), 19 anh hùng “tuy họ hàng quê quán khác nhau, nhưng kết nghĩa thân nhau như một tổ liền cành. Phận vinh hiển đều có khác nhau, mong có tình như cùng chung một họ... Thề sống chết cùng nhau, không dám quên lời thề son sắt”.
Trong 19 người có mặt ở Hội thề Lũng Nhai, sử sách xưa đặc biệt chú ý đến Lê Lai đã liều mình cứu minh chủ Lê Lợi thoát khỏi vòng vây của quân Minh. Tấm lòng trung quân, chí khí cao cả, cương trực, giàu lòng yêu nước căm thù giặc của ông đã để muôn đời sau trong trái tim của vạn con dân nước Việt đều nao nức với câu ca “hai mốt Lê Lai, hai hai Lê Lợi”.
Tiếp nối của những Hội thề sông Hát thời Hai Bà Trưng, Hội thề trung hiếu đền Đồng Cổ (Hội thề Đồng Cổ) của triều Lý, những lễ minh thệ dưới triều Trần, triều Hồ..., cuộc hội ngộ lịch sử này có đủ các tầng lớp, lứa tuổi từ nhiều miền quê khác nhau phát triển một cuộc khởi nghĩa chống bộ máy thống trị của giặc ngoại xâm trong phạm vi địa bàn nhỏ hẹp, tiến lên thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.
Lời thề trịnh trọng thiêng liêng “dốc sức cùng lòng gìn giữ địa phương để trong cõi được an cư, sống chết cùng nhau...” (trích Văn thề, Lam Sơn thực lục) được xem như bản tuyên ngôn đầu tiên của phong trào khởi nghĩa Lam Sơn.
Từ “đốm lửa” ở Lũng Nhai, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nhanh chóng phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng, chống Minh và kết thúc thắng lợi. Năm 1428, cả nước ca khúc khải hoàn, Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, xưng là Thuận Thiên, đặt tên nước là Đại Việt, lập nên triều đại nhà Hậu Lê, mở ra kỷ nguyên độc lập, hưng thịnh cho dân tộc Việt Nam.
Hội thề Đông Quan - sự kiện ngoại giao “xưa nay chưa từng thấy”
Lực lượng ban đầu của nghĩa quân Lam Sơn gồm 35 quan võ, 1 số quan văn, 200 thiết kỵ, 200 nghĩa sĩ, 14 thớt voi..., tất cả độ 2.000 người tham gia (theo Lam Sơn thực lục). Sau 2 năm chuẩn bị, ngày 2 tháng giêng năm Mậu Tuất (7/2/1418), Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, xưng là Bình Định vương, truyền hịch khắp nơi chiêu mộ hiền tài, kêu gọi dân chúng hưởng ứng. Lực lượng nghĩa quân từng bước phát triển, mở rộng địa bàn hoạt động từ Thanh Hóa lan rộng vào phía Nam, tiến công ra Bắc, vây thành Đông Quan giải phóng các thành trì, để rồi tướng Vương Thông và toàn bộ giặc Minh buộc phải đầu hàng.
Để đàm phán rút quân về nước, Vương Thông đã xin giảng hòa, Bình Định vương Lê Lợi đồng ý và buộc giặc phải tham gia hội thề. Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (tức 10/12/1427) tại địa điểm ở phía Nam thành Đông Quan, phái đoàn của nghĩa quân Lam Sơn do thủ lĩnh Lê Lợi cầm đầu, bên phía giặc Minh là tướng Vương Thông. Ngay tại Đông Quan, hai bên uống máu ăn thề và đọc bài văn hội thề do Nguyễn Trãi soạn thảo.
Lễ thề của nước thua trận dưới chân thành là một nghi lễ ở Trung Quốc có từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc, nhưng với nước ta thì đây là lần đầu tiên. “Văn hội thề” do Nguyễn Trãi soạn thảo đã đi vào lịch sử với giá trị như một bản hiệp định rút quân.
Chỉ sau hội thề vài ngày, ngày 17/12/1427 Bình Định vương cho sứ sang nhà Minh, đem theo biểu cầu phong (văn bản xin phong tước), lễ vật, trả lại cho nhà Minh ấn “Song hổ phù” tịch thu được của Liễu Thăng trước đây, cùng danh sách các tướng sĩ, quan lại tù binh, cờ xí, ngựa đã bắt được của quân Minh.
Với tinh thần nhân đạo “Lấy khoan hồng thể hiện bụng hiếu sinh”, Lê Lợi đã cho cấp hàng trăm chiến thuyền, hàng nghìn con ngựa cùng với đầy đủ lương thực, để hàng binh và tù binh được an toàn trở về quê hương. Ngoài trò chuyện suốt đêm với Vương Thông, Lê Lợi còn đưa trầu rượu, cờ thêu, trướng vẽ tiễn chân tướng giặc.
Từ Hội thề Lũng Nhai đến Hội thề Đông Quan về mặt không gian dịch chuyển từ một làng nhỏ của Thanh Hóa đến kinh thành Thăng Long, song hơn hết về mặt lịch sử đó là vai trò chủ tướng của Lê Lợi từ lúc tập hợp nghĩa quân cho đến khi giành thắng lợi. TS Phạm Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thanh Hóa khẳng định: “Lũng Nhai hay Đông Quan, tựu chung lại là hội thề của những người yêu nước. Nếu Lũng Nhai là hội thề tập hợp những người yêu nước chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, thì Đông Quan là hội thề của những người giành chiến thắng, đặc biệt là giành lại Thăng Long - kinh đô rực rỡ của thời Lý - Trần”.
Trong hành trình cứu nước, xưng vương của hoàng đế Lê Thái Tổ có biết bao con người anh dũng đã ghi tên mình vào lịch sử, có tiếng ngựa phi, voi gầm xuyên qua bao vùng đất để tạo dựng nên một vương triều tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Bài và ảnh: Chi Anh





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu