Gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực
Tại Thanh Hóa, bên cạnh những dự án phát huy hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, vẫn còn không ít dự án tồn đọng, kéo dài qua nhiều năm chưa được tháo gỡ. Đất đai bị bỏ hoang, hạ tầng dang dở, những dự án này không chỉ gây lãng phí nguồn lực xã hội mà còn tác động trực tiếp đến đời sống, sinh kế của người dân. Thực trạng này đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc rà soát, xử lý dứt điểm các dự án, khơi thông động lực phát triển và đáp ứng kỳ vọng của người dân.

Các dự án tồn đọng, kéo dài tại Khu Kinh tế Nghi Sơn.
Lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng dân sinh
Dự án Xi măng Thanh Sơn tại xã Ngọc Lặc được cấp phép đầu tư năm 2008. Sau khi nhận bàn giao đất, chủ đầu tư mới chỉ thi công một số hạng mục nhỏ, hiện đã xuống cấp nghiêm trọng. Mọi hoạt động đầu tư đã dừng từ năm 2010 đến nay. Gần 36ha đất từng là vùng sản xuất lúa cho năng suất cao của người dân địa phương bị hoang hóa, không còn khả năng cải tạo để sản xuất nông nghiệp. Đất sản xuất không còn, công ăn việc làm không có, rất nhiều người dân địa phương đã phải đi làm ăn xa, hoặc chấp nhận cuộc sống bấp bênh ở quê nhà. Hàng trăm con em xã Ngọc Lặc từng đi học nghề với mong muốn trở về quê hương, phục vụ cho nhà máy cũng đành bỏ phí thời gian, chi phí đào tạo.
Hơn nửa đời người gắn bó với mảnh đất quê hương, ông Hoàng Văn Toản, Trưởng thôn Vân Sơn, xã Ngọc Lặc không khỏi xót xa: “Cả một cánh đồng mênh mông, từng là “bờ xôi, ruộng mật” mang lại cuộc sống ổn định cho bà con, giờ đây hoang hóa, bạc màu, trở thành vùng “đất chết”. Bà con không có việc làm, nhưng đành bất lực nhìn ruộng đồng bỏ hoang. Đã nhiều năm nay, bà con cứ chờ đợi và hy vọng, nhưng rồi lại thất vọng”.
Tại xã Hoằng Tiến, hiện vẫn còn gần 30 dự án tồn đọng, kéo dài hàng chục năm. Những dự án “treo” suốt hàng chục năm qua không chỉ ảnh hưởng đến đời sống, sinh kế của người dân, mà còn tác động trực tiếp đến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Hàng trăm ha bị “đóng băng” suốt nhiều năm đang là lực cản, là “nút thắt” trong định hướng phát triển của xã Hoằng Tiến. Địa phương gặp nhiều khó khăn trong việc bố trí đất cho các công trình hạ tầng, công cộng, khu dân cư mới cũng như thu hút các nhà đầu tư có năng lực, làm chậm quá trình đô thị hóa và phát triển dịch vụ - du lịch ven biển.
Đến khi nào những dự án treo hàng chục năm này mới được xử lý dứt điểm không chỉ là mong mỏi của người dân mà còn nỗi trăn trở của cấp ủy, chính quyền địa phương. Ông Lê Duy Trọng, Trưởng phòng Kinh tế, UBND xã Hoằng Tiến bày tỏ quan điểm: “Địa phương luôn ủng hộ và tạo điều kiện cho những doanh nghiệp có trách nhiệm, có năng lực thực sự đầu tư phát triển. Ngược lại, đối với những dự án chậm tiến độ kéo dài, không khả thi cần có biện pháp xử lý dứt điểm, thu hồi, nhường cơ hội đầu tư cho những doanh nghiệp khác”.

Các dự án tồn đọng, kéo dài tại Khu Kinh tế Nghi Sơn.
Số lượng các dự án chậm triển khai, tồn đọng kéo dài tại Khu Kinh tế Nghi Sơn lên đến 127 dự án, phần lớn đều là những dự án có quy mô lớn, lên đến hàng chục ha mỗi dự án. Trong đó có 46 dự án chưa được giao đất, thuê đất; 48 dự án đã được giao đất, thuê đất nhưng chậm tiến độ sử dụng, vi phạm Luật Đất đai; 33 dự án còn lại đang triển khai thi công nhưng chậm tiến độ đầu tư. Nguyên nhân dẫn đến chậm triển khai thực hiện các dự án là do những vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, thủ tục pháp lý, một số chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính, không còn khả năng triển khai dự án.
Thống kê chung, trên địa bàn toàn tỉnh có 437 dự án gặp khó khăn, vướng mắc; trong đó có 136 dự án do đang còn thời gian thực hiện theo quy định, nên được đưa ra khỏi danh sách để tiếp tục tháo gỡ. 301 dự án còn lại thuộc trường hợp tồn đọng, kéo dài, gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong xử lý. Phía sau những dự án “treo” dai dẳng, kéo dài là cuộc sống bấp bênh, không ổn định của người dân trong vùng quy hoạch; là sự lãng phí rất lớn về tài nguyên đất đai và nguồn lực đầu tư. Hàng trăm ha đất được giải phóng phục vụ dự án đều là những nơi có vị trí thuận lợi, được Nhà nước ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, kết nối vùng. Tuy nhiên, những lợi thế này đã không được phát huy; sau hàng chục năm “đắp chiếu”, nhiều dự án lại trở thành điểm nghẽn, là lực cản trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Quyết tâm xử lý
Tại Thanh Hóa, trước khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 29/2026/QH16 và Chính phủ ban hành Nghị định 147/2026/NĐ-CP, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã có nhiều văn bản chỉ đạo xử lý, giao các sở, ngành, địa phương tiến hành rà soát, phân loại và đề xuất hướng xử lý cho từng nhóm dự án. Ngày 9/6/2025, UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Kế hoạch số 111 về việc xử lý các dự án đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, cho thuê đất nhưng không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất, vi phạm quy định của pháp luật đất đai. Tiếp đó, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch 187/KH-UBND ngày 5/9/2025, Kế hoạch 241/KH-UBND ngày 27/11/2025 về việc xử lý khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

Các dự án tồn đọng, kéo dài tại Khu Kinh tế Nghi Sơn.
Ngày 10/3/2026, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Kế hoạch 66/KH-UBND về việc khắc phục tồn tại, hạn chế, giải quyết những dự án tồn đọng kéo dài có nguy cơ gây thất thoát lãng phí trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch đã chỉ rõ 97 dự án đầu tư công và 274 dự án đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp tồn đọng, kéo dài, được phân loại theo các nhóm có khó khăn, vướng mắc về đền bù, giải phóng mặt bằng; thủ tục pháp lý; năng lực chủ đầu tư và các nguyên nhân khác.
Sau khi tỉnh có các văn bản chỉ đạo, xử lý, hàng loạt dự án không đáp ứng các điều kiện theo quy định đã bị chấm dứt hoạt động. Bên cạnh đó, nhiều dự án khác có những chuyển biến rõ rệt trong tiến độ đầu tư. Điển hình như dự án Nhà máy may xuất khẩu Thịnh Vượng trên địa bàn xã Hoằng Hóa. Được chấp thuận chủ trương đầu tư từ năm 2015 trên diện tích 50.000m2, dự án có tổng mức đầu tư 165 tỷ đồng, dự kiến thu hút khoảng 3.000 lao động. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong suốt 10 năm, dự án vẫn không được đầu tư xây dựng. Tình hình chỉ chuyển biến sau khi UBND tỉnh có Kế hoạch 111/KH-UBND, quy định cụ thể về việc thu hồi đất nếu doanh nghiệp không hoàn thành việc đầu tư xây dựng trong thời gian gia hạn. Ngay sau đó, công ty đã khẩn trương tái khởi động dự án, huy động tối đa máy móc, thiết bị và nhân công lao động, tiến hành san lấp mặt bằng và thi công dự án. Đến thời điểm hiện nay, dự án đã thi công được 90% khối lượng công việc, đang trong giai đoạn hoàn tất để đưa vào hoạt động.
Nhiều dự án khác cũng có những chuyển biến rõ rệt, tiến độ đầu tư được đẩy nhanh hoặc đã hoàn thành đi vào hoạt động như: Dự án trang trại tổng hợp của Công ty TNHH Giang Thái Sơn tại xã Hoằng Giang; Khách sạn dịch vụ và thương mại Hoàng Tuấn tại xã Hoằng Tiến; Khu thương mại dịch, dịch vụ và giới thiệu máy nông nghiệp tại xã Thọ Phú; Trung tâm thương mại và dịch vụ tổng hợp Bắc Giang tại phường Quang Trung; Nhà máy gạch không nung Thạch Bình tại xã Thạch Bình; Trường Mầm non quốc tế Pink House; Văn phòng giao dịch Quang Vinh - Hải Thương, phường Nghi Sơn; Cửa hàng xăng dầu Xuân Thành, xã Thọ Xuân; Nhà máy sản xuất, chế biến nông lâm sản tại xã Trường Lâm; các dự án hạ tầng giao thông tại xã Giao An...
Điểm chung của các dự án này đều tồn đọng trong thời gian dài, đã được gia hạn thời gian thực hiện nhưng vẫn không hoàn thành. Việc UBND tỉnh phân loại dự án theo nhóm nguyên nhân khó khăn, vướng mắc và có phương án xử lý cụ thể đã giúp các “điểm nghẽn” từng bước được tháo gỡ và khơi thông. Đây cũng là minh chứng cho thấy quyết tâm của tỉnh trong xử lý các dự án tồn đọng, kéo dài.
Gỡ “nút thắt”
Thực tế cho thấy, số lượng các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh là tương đối lớn. Phần lớn các dự án chưa được tháo gỡ đều là những dự án có vướng mắc phức tạp, kéo dài qua nhiều thời kỳ, vượt thẩm quyền giải quyết của địa phương; trong khi quy định pháp luật chưa có tiền lệ xử lý, cần phải có cơ chế, chính sách đặc thù hoặc văn bản hướng dẫn chuyên biệt của Trung ương mới có thể tháo gỡ dứt điểm. Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư không còn đủ năng lực tài chính, năng lực thực hiện dự án; một bộ phận có dấu hiệu chây ỳ, thiếu tinh thần hợp tác trong khắc phục sai phạm, vướng mắc.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội và Nghị định 147/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài được kỳ vọng là “chìa khóa” để mở “cánh cửa” cơ chế, pháp lý, giúp giải phóng nguồn lực, giải phóng đất đai.
Theo đó, Nghị quyết 29 hướng dẫn hướng xử lý đối với từng nhóm dự án trên cơ sở phân loại các vi phạm liên quan; cho phép các dự án tiếp tục được triển khai nếu đáp ứng các điều kiện cụ thể. Đây là sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy chính sách, từ “đóng băng để xử lý” sang “xử lý để vận hành”, qua đó mở ra khả năng kích hoạt lại nhiều dự án đang bị tắc nghẽn.
Ngay sau khi Trung ương ban hành Nghị quyết 29 và Nghị định 147, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBND tỉnh Thanh Hóa đã nhanh chóng cụ thể hóa chủ trương bằng những giải pháp đồng bộ, thể hiện quyết tâm cao trong xử lý các dự án tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh. Việc phân loại các dự án theo thẩm quyền giải quyết, nguyên nhân khó khăn; đồng thời giao rõ trách nhiệm, tiến độ, lộ trình xử lý cho từng cơ quan, đơn vị đã cho thấy tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm”. Đây là yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả thực hiện, tránh tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm giữa các đơn vị.
Kết quả thực hiện đã tạo được những chuyển biến tích cực. Trong tổng số 301 dự án gặp khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài, đã có 147 dự án hoàn thành việc tháo gỡ; 143 dự án đã có phương án xử lý cụ thể; chỉ còn 11 dự án đang tiếp tục nghiên cứu cơ chế, chính sách để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét.
Việc tháo gỡ các dự án tồn đọng, kéo dài không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm khơi thông nguồn lực phát triển mà còn thể hiện trách nhiệm trước Nhân dân, trước sự phát triển bền vững của địa phương. Với những cơ chế đặc thù từ Trung ương cùng sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền tỉnh Thanh Hóa, những “nút thắt” tồn tại qua nhiều năm đang từng bước được nhận diện, tháo gỡ và xử lý theo lộ trình cụ thể.
Bài và ảnh: Lan Phương





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu