Về cách giảng hai từ “phiền phức” và “phức tạp” trong “Tầm nguyên từ điển” của Lê Văn Hòe
Sách Tầm nguyên từ điển (Vân-Hạc Lê Văn Hòe - Quốc Học Thư Xã ấn hành 1942, NXB Trẻ tái bản quý 1, năm 2026). Ở hai mục từ “phiền phức” và “phức tạp”, tác giả có những cách giải thích đáng chú ý, nhưng xét theo tự hình và lịch sử ngữ nghĩa Hán ngữ thì còn nhiều điểm cần xem xét lại.

1. Mục “phiền phức”, Lê Văn Hòe giảng: “phiền phức 繁輻: PHIỀN là nhiều, đông. PHỨC là tay hoa xe. Phiền-phức là nhiều và rắc-rối như tay hoa xe vậy”.
Thực ra, chữ “phức” trong “phiền phức” không phải là “phức” 輻 (đáng lẽ phải đọc là “phúc” mới đúng) với nghĩa “tay hoa xe” (tức nan hoa xe), mà là chữ “phức” có tự hình là 複 (bộ y 衤). Chữ “phức” 複 vốn nghĩa gốc là “áo kép”, “áo lót hai lớp” (phức y 複衣), tức có nhiều lớp vải chồng lên nhau. Từ nghĩa “áo hai lớp”, chữ “phức” 複 phát triển thành nghĩa rộng, chỉ sự chồng chất, nhiều tầng, rườm rà (như trong các từ: phức hợp; phức hệ; câu đơn, câu phức).
Trong từ ghép đẳng lập “phiền phức” thì “phiền” 繁 nghĩa là nhiều, đông đúc, thịnh vượng (chính là âm khác là “phồn” trong phồn hoa 繁華, phồn vinh 繁榮); mà “phức” 複 cũng có nghĩa là nhiều lớp, nhiều tầng, rườm rà. Hán ngữ đại từ điển giảng “phiền phức” 繁複 là “phồn đa nhi tạp loạn” 繁多而複雜 nghĩa là “nhiều và phức tạp; rườm rà, chồng chéo”, tương tự nghĩa “phức tạp và rắc rối, gây khó khăn” trong tiếng Việt. Chúng tôi chưa thấy tài liệu Hán ngữ nào ghi nhận phiền phức 繁輻 (phức 輻 với nghĩa “tay hoa xe”) như Lê Văn Hòe giảng.
2. Mục “phức tạp”, Lê Văn Hòe giảng: “phức 輻雜 : PHỨC là tay hoa xe. TẠP là trộn các thứ rau lẫn lộn với nhau làm một món. Phức-tạp là nhiều thứ, nhiều loại, ở lẫn lộn một chỗ, một nơi, nhiều và lẫn với nhau như các thứ rau trộn làm một món”.
Đây vẫn là cách tác giả “cụ thể hóa” nghĩa khái quát bằng một hình ảnh sinh hoạt đời thường khiến từ ngữ lạc sang một gốc khác.
Thực ra “phức tạp” 複雜 là từ ghép đẳng lập rất điển hình của Hán ngữ: phức 複 = chồng chất, nhiều lớp; 雜 = pha tạp, không thuần nhất. Hai yếu tố cùng trường nghĩa, bổ sung cho nhau để tăng cường sắc thái “rối rắm, khó phân biệt”. Tuy nhiên, Vân Hạc Lê Văn Hòe đã không dừng ở tầng nghĩa khái quát chính xác ấy. Một mặt, ông lái chữ “phức” 複 (nghĩa gốc là áo kép, chồng chất, rườm rà) sang chữ “phức” 輻 (bộ xa, với nghĩa “tay hoa xe”); mặt khác, ông quy chữ “tạp” về một hình ảnh rất cụ thể là “trộn các thứ rau lẫn lộn với nhau làm một món”. Đây là một kiểu “dân gian hóa từ nguyên”, vì chữ 雜 không hề mang nghĩa chuyên biệt là “món rau trộn”. Thực tế, “rau trộn” chỉ có thể lấy làm ví dụ minh họa cho tính chất “tạp nham”, “hỗn hợp”. Còn khi lấy “rau trộn” làm cơ sở cắt nghĩa bản thân chữ “tạp”, thì câu chuyện “từ nguyên” sẽ bị đảo ngược: đáng ra “rau trộn” là ứng dụng của nghĩa “tạp”, lại thành ra “tạp” được sinh ra từ “rau trộn”.
Hán ngữ đại từ điển giảng “phức tạp” 複雜 là “vị sự vật đích chủng loại hoặc đầu tự đa nhi tạp” 謂事物的種類或頭緒多而雜, nghĩa là “Chỉ sự vật có nhiều loại hoặc đầu mối sự việc chằng chịt, rắc rối”.
Trong Hán ngữ, cả phiền phức 繁複 lẫn phức tạp 複雜 đều được ghi nhận thống nhất với chữ phức có tự hình là 複 (bộ y), chứ không phải chữ phức 輻 (bộ xa) nghĩa là nan hoa bánh xe, như cách giải thích của Vân Hạc Lê Văn Hòe.
Có thể thấy, trong Tầm nguyên từ điển, Vân Hạc Lê Văn Hòe thường có xu hướng giải thích từ ngữ bằng những hình tượng cụ thể, sinh động nhằm giúp người đọc dễ hiểu, dễ nhớ. Đây là ưu điểm khiến cuốn sách trở nên hấp dẫn và có giá trị phổ cập rộng rãi trong một thời gian dài. Tuy nhiên, cách làm này đôi khi thiếu chính xác về mặt tự hình và lịch sử ngữ nghĩa. Hai trường hợp “phiền phức” và “phức tạp” là ví dụ khá tiêu biểu cho hiện tượng ấy.
Mẫn Nông (CTV)





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu