Tạo sinh kế cho đồng bào Mông thoát nghèo bền vững
Từ những chủ trương, chính sách thiết thực của Đảng và Nhà nước, bức tranh sinh kế của đồng bào Mông tại các bản làng vùng cao xứ Thanh đang có những chuyển biến rõ nét. Những con đường mới mở, các mô hình sản xuất hiệu quả cùng nguồn vốn hỗ trợ kịp thời đã trở thành “bệ phóng” vững chắc, giúp bà con từng bước tự lực vươn lên, đẩy lùi cái nghèo.

Người dân bản Kéo Hượn, xã Nhi Sơn phát triển mô hình nuôi gia cầm.
Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, những năm qua, hàng loạt chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được triển khai mạnh mẽ. Đáng chú ý, dòng vốn đầu tư không chỉ tập trung vào việc hoàn thiện “điện, đường, trường, trạm” mà còn tập trung vào hỗ trợ sinh kế, chuyển giao khoa học - kỹ thuật sao cho phù hợp với tập quán canh tác, thổ nhưỡng và khí hậu của từng bản làng.
Vài năm trước, bản Ché Lầu, xã Na Mèo là bản đặc biệt khó khăn, 100% dân số là đồng bào Mông, phần lớn hộ dân thuộc diện nghèo. Đường đi lại cách trở, sản xuất dựa vào kinh nghiệm, nông sản khó tiêu thụ. Nay, diện mạo Ché Lầu đã khác. Đường giao thông, điện thắp sáng, trường học, trạm y tế được đầu tư, mở thêm điều kiện để người dân đổi cách làm ăn.
Bước ngoặt lớn nhất đến với Ché Lầu từ ngày 13/7/2022, khi HĐND tỉnh Thanh Hóa ban hành Nghị quyết số 301/NQ-HĐND về phân bổ nguồn vốn ngân sách Trung ương cho Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2021-2025). Nhờ nguồn kinh phí này, huyện Quan Sơn (cũ) đã hoàn thành tuyến đường giao thông liên xã huyết mạch, nối liền bản Ché Lầu, xã Na Mèo sang bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy. Con đường mới không chỉ giúp việc đi lại bớt gian nan, mà còn thông suốt tuyến đường vận chuyển nông sản, thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.
Khi “nút thắt” giao thông được tháo gỡ, bà con mở rộng quy mô trồng trọt, chăn nuôi. Hàng hóa làm ra không còn bó hẹp trong bản mà theo những chuyến xe ra thẳng các điểm thu mua. Điển hình như gần 15ha lúa nước tại Ché Lầu trước đây người dân chỉ cấy bập bõm mỗi năm một vụ do thiếu kỹ thuật, nay nhờ có cán bộ hướng dẫn, nhiều diện tích đã tăng sản xuất lên 2 vụ/năm, giúp chủ động hoàn toàn nguồn lương thực tại chỗ.
Cùng với cây lúa, người dân Ché Lầu còn trồng hàng chục hecta khoai mán, sắn, dứa mật. Đây là những cây phù hợp với đất đai, khí hậu vùng cao, dễ chăm sóc, có thể tạo thêm nguồn thu. Ngoài ra, dự án thí điểm trồng 170ha vầu được triển khai từ năm 2021 đến nay đã cho thấy hiệu quả. Cây vầu sinh trưởng tốt, đầu ra ổn định, vừa tạo sinh kế, vừa góp phần giữ đất, giữ rừng.
Không dừng ở trồng trọt, người dân bản Ché Lầu còn được hỗ trợ phát triển chăn nuôi. Điển hình là 40 hộ đặc biệt khó khăn được hỗ trợ nuôi lợn nái sinh sản, đồng thời được cán bộ chuyên môn tư vấn kỹ thuật chăm sóc, vệ sinh chuồng trại, phòng, chống dịch bệnh. Từ những hộ được hỗ trợ ban đầu, đến nay bà con thấy hiệu quả nên mạnh dạn học làm theo, tích lũy con giống, mở rộng đàn vật nuôi.
Nhờ sự hỗ trợ đúng hướng, đến hết năm 2025, bản Ché Lầu có gần 350 con lợn, 130 con bò, 60 con trâu và khoảng 1.200 con gia cầm. Chăn nuôi đã giúp người dân có thêm thu nhập, chủ động hơn khi cần đầu tư sản xuất, sửa chữa nhà cửa, lo việc học hành cho con em.
Bí thư chi bộ bản Ché Lầu Thao Văn Lâu cho biết: “Bây giờ bản đổi thay nhiều. Tư tưởng của bà con đã thông suốt, biết áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi để phát triển kinh tế, có nguồn thu nhập ổn định. Nhờ đó, đến nay đã có khoảng 40% số hộ đủ điều kiện thoát nghèo”.
Ở bản Xía Nọi, xã Sơn Thủy, đời sống đồng bào Mông cũng từng bước được nâng lên nhờ các chính sách hỗ trợ. Bản có 40 hộ, gần 200 nhân khẩu. Từ sản xuất nhỏ lẻ, người dân đã chú ý hơn đến thâm canh, chuyển đổi cây trồng, phát triển kinh tế rừng. Hiện bản có khoảng 5ha lúa nước, 6ha ngô, sắn và gần 20ha đất trồng cây hoa màu được bà con áp dụng kỹ thuật để nâng cao năng suất. Ngoài cây lương thực, cây nứa, vầu đang trở thành hướng phát triển chủ lực.
Đồng chí Lê Đình Xuân, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Thủy, cho biết: Xã luôn tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào Mông đẩy mạnh thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Xã cũng tập trung thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách, dự án đầu tư ở 2 bản đồng bào Mông là Mùa Xuân và Xía Nọi; lồng ghép nguồn lực để tránh dàn trải, ưu tiên những lĩnh vực sát với nhu cầu người dân.
Từ thực tế cho thấy, ở những địa phương có đồng bào Mông sinh sống, các mô hình sinh kế được triển khai hiệu quả, là điểm tựa để đồng bào vươn lên thoát nghèo bền vững. Điển hình như bản Ché Lầu, xã Na Mèo cây khoai mán ruột vàng được đưa vào sản xuất, góp phần hình thành cây đặc sản địa phương. Ở bản Lốc Há, xã Nhi Sơn và bản Pù Toong, xã Pù Nhi, người dân trồng đào, mận, sắn kết hợp chăn nuôi và sản xuất rừng. Tại xã Tam Chung, mô hình liên kết trồng cây dược liệu như sa nhân, cây trẩu và một số cây khác trên diện tích khoảng 10ha, cùng mô hình nuôi dúi... Có nơi còn vận động mỗi hộ nuôi tối thiểu từ 3 con bò hoặc trâu trở lên; các chương trình như “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, mô hình “Vườn rau xanh, nhà sạch đẹp, bếp ngăn nắp, chuồng xa nhà”, “Câu lạc bộ phụ nữ bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” vừa hỗ trợ sinh kế, vừa góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm của đồng bào.
Hiệu quả từ các chương trình, dự án, chính sách dân tộc đã giúp nhiều gia đình đồng bào Mông trong tỉnh vươn lên phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, tạo nền tảng vững chắc để các bản Mông xây dựng cuộc sống ổn định hơn.
Bài và ảnh: Xuân Minh





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu