Quy định mới về thủ tục kiểm soát tàu thuyền xuất nhập cảnh, quá cảnh
Chính phủ ban hành Nghị định số 289/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026 về quản lý, bảo đảm an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý.

(Ảnh minh họa. Thanh Liêm/TTXVN)
Nghị định này quy định thủ tục kiểm soát; kiểm tra, giám sát; cấp giấy phép đi bờ của thuyền viên, giấy phép xuống tàu; quản lý, kiểm soát hoạt động liên quan đến an ninh, trật tự của người Việt Nam, người nước ngoài, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền mang cờ quốc tịch nước ngoài và các loại phương tiện khác của Việt Nam, nước ngoài tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý bao gồm cảng Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang (sau đây viết gọn là cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý)...
Trách nhiệm của các bộ, ngành và Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng trong công tác quản lý, bảo đảm an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý.
Hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng và xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
Đối tượng áp dụng gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân, tàu thuyền và các loại phương tiện khác của Việt Nam và nước ngoài ra, vào, hoạt động tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý.
Nghị định này không áp dụng đối với người sử dụng và được chuyên chở bằng tàu thuyền và các loại phương tiện khác ra, vào, hoạt động tại cửa khẩu cảng do Bộ Công an quản lý để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Thủ tục kiểm soát đối với tàu thuyền xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng
Về thủ tục kiểm soát đối với tàu thuyền xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng, Nghị định quy định tàu thuyền nhập cảnh, thuyền viên, hành khách đi trên tàu thuyền nhập cảnh khi vào khu vực biên giới biển Việt Nam phải làm thủ tục nhập cảnh tại cửa khẩu cảng đầu tiên nơi tàu thuyền đến.
Tàu thuyền nước ngoài xuất cảnh, thuyền viên, hành khách đi trên tàu thuyền nước ngoài xuất cảnh, trước khi rời khỏi biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam, phải làm thủ tục xuất cảnh tại cửa khẩu cảng cuối cùng nơi tàu thuyền đi.
Tàu thuyền Việt Nam xuất cảnh, thuyền viên, hành khách đi trên tàu thuyền Việt Nam xuất cảnh, trước khi rời khỏi vùng biển Việt Nam, phải làm thủ tục xuất cảnh tại cửa khẩu cảng cuối cùng nơi tàu thuyền đi.
Tàu thuyền quá cảnh phải làm thủ tục quá cảnh khi vào khu vực biên giới biển Việt Nam.
Trong thời gian quá cảnh, trên đường hành trình quá cảnh, thuyền trưởng phải chịu trách nhiệm quản lý thuyền viên, hành khách, hàng hóa trên tàu thuyền, giữ nguyên trạng thái niêm phong và hồ sơ xuất nhập cảnh; không được để người xuống tàu thuyền, rời tàu thuyền, phương tiện cập mạn tàu thuyền và thực hiện các hoạt động khác khi chưa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép, trừ cán bộ, nhân viên, phương tiện của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng, hoa tiêu, người làm thủ tục thực hiện nhiệm vụ và nhân viên y tế xuống tàu cấp cứu cho thuyền viên, hành khách.
Tàu thuyền chuyển cảng phải làm thủ tục chuyển cảng đi trước khi rời một cửa khẩu cảng để di chuyển đến một cửa khẩu cảng khác của Việt Nam; thủ tục chuyển cảng đến khi đến một cửa khẩu cảng từ một cửa khẩu cảng khác của Việt Nam.
Thực hiện thủ tục kiểm soát theo cách thức điện tử
Theo Nghị định, đối tượng áp dụng thủ tục kiểm soát theo cách thức điện tử gồm tàu thuyền Việt Nam nhập cảnh, xuất cảnh; tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến nội địa; tàu thuyền nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, chuyển cảng; tàu thuyền được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép hoặc có văn bản cho phép đến cảng, bao gồm tàu thuyền nước ngoài có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc tàu thuyền vận chuyển chất phóng xạ; tàu thuyền nước ngoài đến cảng thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể thao, nghề cá, cứu hộ cứu nạn, trục vớt tài sản chìm đắm, lai dắt hỗ trợ, xây dựng, khảo sát và sửa chữa công trình biển; tàu thuyền nước ngoài đến vùng biển Việt Nam thực hiện các hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác tài nguyên và hoạt động về môi trường; thuyền viên nước ngoài đi trên tàu thuyền nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, chuyển cảng; tàu cá Việt Nam và thuyền viên Việt Nam áp dụng thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công được thực hiện thủ tục kiểm soát theo cách thức điện tử khi Công an cửa khẩu cảng và các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đáp ứng được cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và yêu cầu quản lý nghiệp vụ chuyên ngành.
Thủ tục kiểm soát theo cách thức điện tử được thực hiện thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia theo quy định của pháp luật về cơ chế một cửa quốc gia.
Trường hợp Cổng thông tin một cửa quốc gia có sự cố, người làm thủ tục được thực hiện thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công quy định tại Điều 6 Nghị định này.
Thực hiện thủ tục kiểm soát thủ công với tàu thuyền xuất nhập cảnh, quá cảnh
Điều 6 Nghị định này quy định thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công đối với tàu thuyền nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh; tàu thuyền chuyển cảng; tàu thuyền, thuyền viên, hành khách đi trên tàu chở khách du lịch quốc tế; tàu thuyền buồm, tàu thuyền thể thao, du thuyền và người đi trên tàu thuyền buồm, tàu thuyền thể thao, du thuyền; tàu cá Việt Nam, thuyền viên, hành khách đi trên tàu cá Việt Nam đi khai thác thủy sản ở vùng biển ngoài vùng biển Việt Nam.
Về thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công đối với tàu thuyền nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, Nghị định quy định như sau:
Về địa điểm thực hiện: Tại trụ sở chính hoặc văn phòng đại diện của Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ đường thủy nội địa hoặc tại tàu theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động hàng hải; ngoài các trường hợp thực hiện thủ tục tại tàu theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động hàng hải, Công an cửa khẩu cảng thông báo, thống nhất với Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ đường thủy nội địa thực hiện thủ tục kiểm soát tại tàu trong các trường hợp sau: Có người trốn trên tàu; tàu thuyền có dấu hiệu rõ ràng vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; có căn cứ xác định việc khai báo không đầy đủ, không chính xác về thuyền viên, hành khách; có căn cứ xác định thuyền viên, hành khách sử dụng hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế giả mạo để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh.
Về thời hạn thực hiện và thành phần hồ sơ: Thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động hàng hải.
Thuyền viên nước ngoài được sử dụng sổ thuyền viên để xuất trình khi nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh trong trường hợp không có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hoặc giấy tờ trên hết giá trị sử dụng.
Khi làm thủ tục xuất cảnh cho tàu thuyền, người làm thủ tục phải nộp lại cho công an cửa khẩu cảng giấy phép đi bờ của thuyền viên (nếu có), trừ thuyền viên đi trên tàu thuyền quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định này.
Thủ tục kiểm soát thủ công đối với tàu thuyền, hành khách đi trên tàu chở khách quốc tế
Đối với thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công đối với tàu thuyền, thuyền viên, hành khách đi trên tàu chở khách du lịch quốc tế, Nghị định quy định:
a) Thực hiện theo quy định tại quy định về thủ tục kiểm soát theo cách thức thủ công đối với tàu thuyền nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh đã nêu ở trên.
b) Chậm nhất 12 giờ, trước khi tàu đến cảng, doanh nghiệp lữ hành quốc tế đón khách phải nộp cho công an cửa khẩu cảng các loại giấy tờ sau: 1 bản chính Chương trình du lịch của hành khách; 1 bản sao giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế (lần đầu tiên đón khách tại cảng); 1 bản chính công văn trả lời đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, trừ những hành khách mang hộ chiếu đã có thị thực Việt Nam và những hành khách mang hộ chiếu thuộc diện miễn thị thực nhập cảnh Việt Nam (nếu có hành khách đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu cảng).
Trường hợp vì lý do khách quan không đủ thời gian để nộp bản chính, theo văn bản đề nghị của doanh nghiệp lữ hành quốc tế, công an cửa khẩu cảng cho phép doanh nghiệp lữ hành quốc tế nộp bản fax hoặc bản sao để làm thủ tục cho hành khách; trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nộp bản fax hoặc bản sao, doanh nghiệp lữ hành phải nộp bản chính công văn trả lời đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an cho công an cửa khẩu cảng.
Trường hợp hành khách được doanh nghiệp lữ hành quốc tế làm thủ tục đề nghị cấp thị thực tại một cửa khẩu cảng, nhưng do hành trình của tàu đến cửa khẩu cảng khác, công an cửa khẩu cảng nơi tàu đến tiếp nhận công văn trả lời đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an và thực hiện cấp thị thực cho khách theo quy định, không yêu cầu phải làm thủ tục xin duyệt lại nhân sự.
c) Công an cửa khẩu cảng thực hiện cấp thị thực cho hành khách tại tàu theo quy định của pháp luật về nhập xuất cảnh.
d) Đối với tàu khách quốc tế được cấp giấy phép chở khách du lịch nội địa giữa các cửa khẩu cảng của Việt Nam:
Trước khi tàu đón khách, người làm thủ tục nộp cho công an cửa khẩu cảng 1 bản sao giấy phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép tàu đón khách du lịch nội địa giữa các cảng của Việt Nam; doanh nghiệp lữ hành nộp cho công an cửa khẩu cảng 1 bản chính chương trình du lịch của khách du lịch nội địa và 1 bản chính danh sách hành khách.
Hành khách là người nước ngoài du lịch nội địa xuống tàu phải xuất trình cho công an cửa khẩu cảng hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; hành khách là người Việt Nam du lịch nội địa xuống tàu phải xuất trình cho công an cửa khẩu cảng giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026./.
Theo TTXVN





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu