“Phách” trong “lạc phách” nghĩa là gì?
Trong sách Tầm nguyên từ điển (Vân-Hạc Lê Văn Hòe - Quốc Học Thư Xã ấn hành 1942, NXB Trẻ tái bản quý I, năm 2026), đề cập đến cách giảng chữ “phách” trong từ “lạc phách”.

Mục “hồn phách”, Tầm nguyên từ điển giảng: “HỒN PHÁCH 魂魄: Người và động vật có hai phần. Một phần hữu-hình là thân-thể. Một phần vô-hình là tinh-thần. Tinh-thần cũng gọi là Hồn; thân-thể cũng gọi là Phách”. “Đàn ông có 3 phần hồn, 7 phần phách; đàn bà có 3 phần hồn 9 phần phách, ý cho rằng thân-thể người ta nặng hơn linh-hồn.
Lạc là rơi rụng.
Lạc phách là rơi thân-thể, nghĩa bóng là thất-nghiệp”.
Cách giảng của Vân-Hạc Lê Văn Hòe có một số điểm nhầm lẫn. Đó là: 1. Đồng nghĩa “phách” (vía) với “phách” (thể phách, thân thể) làm một; 2. Nhầm lẫn “phách” (vía, hồn phách) trong thành ngữ “kinh hồn lạc phách” với “phách” (âm Hán Việt phải đọc là “thác” mới đúng) trong từ “lạc thác”/ “lạc phách” (bơ vơ, thất nghiệp không nơi nương tựa).
Chúng ta hãy đi vào từng vấn đề một.
1. “Phách” (vía, hồn phách) khác “phách” (thể phách, thân xác)
Theo quan niệm của người xưa, con người ta có “hồn” (linh hồn) và “phách” (vía, linh phách). Phần tinh khí, thần thức nương tựa vào và gắn liền với hình thể vật chất của con người được gọi là “phách” (vía), để phân biệt với “hồn” (魂), tức phần tinh thần được quan niệm là có thể tách rời thân thể mà tồn tại độc lập. Bình thường, cả “hồn” và “phách” đều nương tựa vào thể xác. Tuy nhiên, theo quan niệm phổ biến, khi chết, chỉ linh hồn mới có thể rời khỏi thể xác, tồn tại ngoài thể xác; còn “phách” (vía) thì dần tan theo thể xác. Bởi thế, đôi khi “phách”, hay “thể phách” được dùng để chỉ thân xác con người, ví dụ: Thác là thể phách, còn là tinh anh - Kiều (phần mất đi là thể xác, còn phần “tinh anh”, tức phần hồn thì vẫn còn, nó tồn tại ngoài thể xác).
Tuy nhiên, không nên hiểu đơn giản “phách” chính là thân thể, thân xác con người.
Hán ngữ đại từ điển, mục “phách” dẫn lời chú của Khổng Dĩnh Đạt: “Con người khi sinh ra trước hết biến hóa thành hình thể; phần linh diệu của hình thể ấy được gọi là phách... Cái linh khí dựa vào hình thể ấy gọi là phách”. Lời chú này cho chúng ta thấy: phách không phải bản thân hình thể, mà là linh phách, sinh khí, thần lực nằm trong hình thể và không tách rời hình thể. Nghĩa là phách (魄) là một thực thể tinh thần hoặc sinh khí gắn với thân xác, chứ không phải chính thân xác. Cũng theo quan niệm dân gian, 魂 (hồn) thuộc dương, thiên về phần tinh thần, ý thức; 魄 (phách) thuộc âm, gắn với hình hài và các hoạt động của thân xác. Người có “khí phách” tức là người có tinh thần vững vàng, khi gặp việc không sợ hãi; ngược lại người “yếu bóng vía” (tức không có khí phách), thì non gan, hay sợ sệt, dễ bị khuất phục.
Như vậy, “hồn” (linh hồn) và “phách” (vía, linh phách) gắn với thân xác, giúp cho thân xác hoạt động. Thành ngữ Việt và Hán đều có những câu như: “Hồn xiêu phách lạc”, “Hồn phi phách tán” (魂飛魄散, hồn bay phách tán), “Hồn kinh phách lạc” (魂驚魄落), “Thất hồn lạc phách” (失魂落魄), “Kinh hồn bạt vía” (hay “bạt vía kinh hồn”), “hồn vía lên mây”... Những cách ví von “hồn phi”, “hồn kinh”, “thất hồn”, “lạc phách”, “phách lạc”, “phách tán”... của dân gian ý chỉ sự sợ hãi đến mức mất hết tinh thần; tưởng chừng hồn và vía rời khỏi thể xác, chứ không phải “lạc phách là rơi thân-thể”, như cách giải thích của Vân-Hạc Lê Văn Hòe. Vì “sợ mất vía” nên với người mới trải qua một cơn chấn động về tinh thần (do sợ hãi), dân gian vẫn thực hành nghi lễ gọi là “chao vía”, “gọi vía” trở lại; hoặc khi làm lễ khâm liệm, thì gọi “ba hồn bảy vía”, hay “ba hồn chín vía” về “nhập quan”. Điều này cho thấy không chỉ “hồn” mà “vía” cũng có thể thoát lìa khỏi thể xác.
2. “Lạc phách” (mất vía) và “lạc phách” (thất nghiệp)
Ngoài đánh đồng “phách” (vía) với “phách” (thể xác) làm một, Lê Văn Hòe còn đánh đồng “lạc phách” (mất vía) với “lạc phách” (thất nghiệp). Ông đã giảng: “Lạc phách là rơi thân-thể, nghĩa bóng là thất-nghiệp”. Tuy nhiên, “phách” 魄 trong “lạc phách” 落魄, tuy cùng một tự hình, nhưng nghĩa khác.
Chữ “phách” 魄 trong “lạc phách” (nghĩa là sa sút, thất thế) vốn là chữ được dùng thông với “thác” 拓, xét theo âm Hán Việt chính của nghĩa này thì phải đọc là “thác” (tuy trong thực tế người ta vẫn đọc là “lạc phách”). Vì chữ “phách” 魄 trong trường hợp này được dùng thông với chữ thác 拓, nên thực chất đây là từ “lạc thác” 落拓. Hán ngữ đại từ điển giảng “lạc thác” là: nghèo túng; lưu lạc khốn cùng; thất nghiệp...
Như vậy, từ chỗ đồng nghĩa “phách” (vía) với “phách” (thể xác), Lê Văn Hòe đã giảng “lạc phách” (mất vía) thành “lạc phách” = “rơi thân thể”. Tác giả Tầm nguyên từ điển tiếp tục nhầm lẫn khi cho rằng “thất nghiệp” là nghĩa bóng của “lạc phách” (“rơi thân-thể”), trong khi thực tế là “lạc phách” (mất vía) và “lạc phách”/“lạc thác” (sa sút, thất thế, bơ vơ không nơi nương tựa) thực chất là hai cách dùng khác nhau của chữ phách 魄.
Mẫn Nông (CTV)





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu