Đánh thức tiềm năng đất đai bằng bản đồ nông hóa
Việc xây dựng bản đồ nông hóa đang mở ra cách tiếp cận mới trong quản lý và sử dụng tài nguyên đất, giúp ngành nông nghiệp của tỉnh khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, tổ chức lại sản xuất theo hướng hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nền nông nghiệp xanh, bền vững.
Trên cơ sở bản đồ nông hóa, cán bộ Đồn Biên phòng Tam Chung hướng dẫn người dân đưa cây sắn nguyên liệu vào sản xuất phục vụ chế biến, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Đưa khoa học vào từng thửa đất
Toàn tỉnh có hơn 913.000ha đất nông nghiệp, trong đó khoảng 234.500ha đất sản xuất nông nghiệp. Với địa hình trải dài từ miền núi, trung du đến đồng bằng và ven biển, mỗi vùng có đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu khác nhau, tạo điều kiện phát triển nhiều loại cây trồng. Song chính sự đa dạng đó cũng đặt ra yêu cầu phải đánh giá chính xác chất lượng đất để khai thác đúng tiềm năng của từng vùng. Nhằm tạo nền tảng khoa học cho tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt, ngành nông nghiệp đã triển khai nhiệm vụ xây dựng bản đồ nông hóa phục vụ thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và quản lý bền vững tài nguyên đất. Sau kết quả bước đầu của giai đoạn 1 xây dựng bản đồ nông hóa, năm 2025 tỉnh tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 tại 100 xã, phường, với diện tích điều tra hơn 134.306ha. Theo đó, các đơn vị chuyên môn đã điều tra hiện trạng sử dụng đất, lấy gần 11.000 mẫu đất để phân tích các chỉ tiêu về độ chua, chất hữu cơ, đạm, lân, kali và các nguyên tố trung, vi lượng. Dựa trên kết quả đó, các đơn vị xây dựng hệ thống bản đồ nông hóa, bản đồ thích hợp đất đai, bản đồ khuyến cáo bón phân cùng cơ sở dữ liệu trực tuyến (WebGIS), tạo thành “hồ sơ sức khỏe” của từng vùng đất.
Giá trị nổi bật của bản đồ nông hóa không chỉ dừng ở việc phản ánh hiện trạng mà còn xác định khả năng thích nghi của từng loại cây trồng trên từng vùng đất. Từ đó, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng sẽ dựa trên cơ sở dữ liệu khoa học thay vì kinh nghiệm. Người sản xuất có thể biết đất thiếu dinh dưỡng gì, cần bổ sung loại phân nào và cây trồng nào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Theo ông Trần Xuân Trung, Phó giám đốc Công ty CP Mía đường Lam Sơn: “Việc xây dựng bản đồ nông hóa có ý nghĩa đặc biệt đối với doanh nghiệp khi mở rộng vùng nguyên liệu. Trước đây, mỗi dự án đều phải khảo sát và phân tích lại từ đầu, vừa tốn thời gian vừa phát sinh chi phí. Khi có bản đồ nông hóa, doanh nghiệp có thể nhanh chóng xác định vùng đất phù hợp, xây dựng quy trình canh tác chính xác, sử dụng phân bón hợp lý, nâng cao chất lượng nông sản và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu”.
Trong bối cảnh nông nghiệp đang chuyển mạnh sang sản xuất xanh và ứng dụng công nghệ số, dữ liệu đất đai đang trở thành nguồn tài nguyên có giá trị. Hoàn thiện bản đồ nông hóa trên phạm vi toàn tỉnh sẽ giúp các quyết định trong sản xuất nông nghiệp ngày càng chính xác, khoa học và hiệu quả hơn.
Mở đường cho nông nghiệp hiện đại
Nếu như trước đây bản đồ đất chủ yếu phục vụ công tác quy hoạch thì nay, cùng với chuyển đổi số, bản đồ nông hóa đã trở thành “ngân hàng dữ liệu” của ngành nông nghiệp. Đây là công cụ hỗ trợ từ quy hoạch sản xuất, lựa chọn cây trồng đến hướng dẫn kỹ thuật canh tác trên từng thửa ruộng.
Điểm mới của giai đoạn 2 là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu trực tuyến (WebGIS), tích hợp đồng bộ bản đồ nông hóa, bản đồ thích hợp đất đai, bản đồ khuyến cáo bón phân và kết quả phân tích mẫu đất. Hệ thống này giúp cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân dễ dàng tra cứu, khai thác thông tin phục vụ sản xuất và quản lý.
Một trong những giá trị lớn nhất mà bản đồ nông hóa mang lại là tạo cơ sở khoa học cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Mỗi vùng đất được đánh giá mức độ phù hợp với từng nhóm cây trồng như lúa, ngô, mía, sắn, rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm hay cây dược liệu. Trên cơ sở đó, các địa phương có thể quy hoạch vùng sản xuất tập trung, khai thác đúng lợi thế sinh thái, hạn chế rủi ro trong sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Bên cạnh đó, bản đồ khuyến cáo người dân sử dụng phân bón theo nguyên tắc “đúng đất, đúng cây, đúng dinh dưỡng”, giảm lượng phân bón hóa học, tiết kiệm chi phí, cải thiện độ phì của đất và giảm tác động đến môi trường. Đây cũng là điều kiện để nông sản đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang Hải, Phó Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng nông hóa (Bộ Nông nghiệp và Môi trường): “Bản đồ nông hóa không chỉ phục vụ sản xuất trước mắt mà còn là nền tảng của nông nghiệp số. Khi dữ liệu đất đai được chuẩn hóa và tích hợp với dữ liệu khí tượng, thủy văn, sâu bệnh hay hệ thống tưới thông minh, việc quản lý và điều hành sản xuất sẽ chính xác hơn. Người sản xuất biết rõ đặc tính đất, nhu cầu dinh dưỡng và cây trồng phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư, đồng thời góp phần bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái”.
Việc hoàn thành bản đồ nông hóa trên phạm vi toàn tỉnh đánh dấu bước chuyển trong tư duy quản lý tài nguyên đất của tỉnh, từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý dựa trên dữ liệu và đặc tính sinh thái. Đây không chỉ là cơ sở để tái cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng hiệu quả hơn mà còn tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến và xuất khẩu.
Bài và ảnh: Lê Hợi





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu