“ý trí” khác “ý chí”

(Baothanhhoa.vn) - Vua Tiếng Việt ra câu hỏi về chính tả “Ý chí hay ý trí”. Người chơi trả lời “Từ thứ nhất”, người dẫn chương trình liền xác nhận “Đáp án chính xác”.

“ý trí” khác “ý chí”

Vua Tiếng Việt ra câu hỏi về chính tả “Ý chí hay ý trí”. Người chơi trả lời “Từ thứ nhất”, người dẫn chương trình liền xác nhận “Đáp án chính xác”.

“ý trí” khác “ý chí”

Như vậy, theo Vua Tiếng Việt thì viết “ý trí” là sai chính tả. Có lẽ không ít người đồng ý với kết luận này. Tuy nhiên, “ý chí” và “ý trí” là hai từ khác nhau. Hoàn toàn không phải “ý trí” là lỗi chính tả của “ý chí”.

  1. Ý chí

“Ý chí” 意志 là từ ghép đẳng lập gốc Hán, trong đó “ý” 意 có nghĩa là “ý chí, nguyện vọng” (nghĩa 1 trong Hán ngữ đại từ điển), mà “chí” cũng có nghĩa là “ý chí, chí hướng, chí nguyện”.

Từ “ý chí” được Hán ngữ đại từ điển giảng là “Trạng thái tâm lý nảy sinh khi con người quyết định đạt tới một mục đích nào đó, thường được biểu hiện qua lời nói hoặc hành động”, và Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê - Vietlex) giảng là “Khả năng tự xác định mục đích cho hành động và quyết tâm đạt cho được mục đích đó”. Như vậy, tuy khác về cách diễn đạt, nhưng nghĩa của “ý chí” trong tiếng Hán và tiếng Việt cơ bản giống nhau.

  1. Ý trí

“Ý trí” 意智 cũng là một từ ghép đẳng lập gốc Hán. Tuy nhiên “ý” 意 trong “ý trí” không còn mang nghĩa 1 (“ý chí, nguyện vọng” như trong từ “ý chí” nữa), mà mang nghĩa thứ 2 là “ý tứ; ý nghĩ; quan điểm” (nguyên văn: ý tứ; kiến giải - 意思;見解); còn “trí” 智 ở đây là “trí tuệ, hiểu biết”. “Ý trí” biểu thị toàn thể năng lực tâm trí, gồm cả “ý thức” (ý) và “trí tuệ” (trí).

Trong số các cuốn từ điển tiếng Việt chúng tôi có trong tay thì có tới 3 cuốn thu thập từ “ý trí”, và dành cho “ý trí” và “ý chí” hai mục riêng:

- Từ điển Việt Nam phổ thông (Đào Văn Tập) giảng “ý trí” là “ý-thức với trí-tuệ”; còn “ý chí” được giảng là “ý quyết-định làm và phải thành-công; thường gọi tắt là cái chí”.

- Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức) giảng “ý trí” là “ý-thức và trí-tuệ”; còn “ý chí” là “chí, sự quyết-định nuôi-nấng trong lòng và quyết tâm làm cho có kết-quả”.

- Hán Việt từ điển (Nguyễn Quốc Hùng) giảng “ý trí” là: “Điều suy nghĩ và sự hiểu biết; Cũng chỉ người giỏi suy nghĩ và sáng suốt, hiểu biết nhiều”.

Trong Hán ngữ, “ý trí” 意智 có nghĩa như trong tiếng Việt. Hán ngữ đại từ điển, mục “ý trí” 意智 giảng hai nghĩa:

1) Do tâm kế; chủ kiến (猶心計;主見) nghĩa là “như tâm kế; chủ kiến, mưu trí”.

Hán ngữ đại từ điển lấy ví dụ trong “Hậu Hán thư - Tiên bi truyện”: “Từ khi Hung Nô tan rã, Tiên Ti cường thịnh, chiếm cứ đất cũ, xưng binh mười vạn, tài lực mạnh mẽ, ý trí càng thêm dồi dào”; “Chu tử ngữ loại”: “Nhan Lỗ Công chỉ có lòng trung nghĩa mà không có ý trí, khi đến đó gặp sứ giả tới, chẳng biết là giặc, liền quỳ hai lạy, sau mới biết thì mắng”; “Nhị khắc phách án kinh kì”: “Quyền Thứ Khanh nằm gối đầu, ngẩn ngơ nghĩ một hồi, đợi mãi không thấy động tĩnh, quả thật chẳng có chút ý trí nào”.

2) Do trí tuệ (猶智慧) nghĩa là “như trí tuệ, thông tuệ”. Từ điển dẫn ngữ liệu: “Lưu Bị để lại di chiếu dặn Hậu chủ: “Có thể đọc Hán thư, Lễ ký, lúc rảnh rỗi lại xem các sách chư tử cùng Lục thao, Thương Quân thư, để tăng thêm ý trí cho con người”.

Trong tiếng Việt, từ “ý trí” ít được dùng trong ngôn ngữ hằng ngày, nhưng lại xuất hiện nhiều trong Phật học. Ví dụ: “Hai người tánh hạnh trái ngược nhau, như người hay giận và người có ý trí, nhưng hành động của họ lại biểu lộ ra cùng chung một tướng: người hay giận cứ xét đến lỗi lầm của kẻ khác, còn người có ý trí cứ thấy những chỗ còn thiếu sót khiến cho hành vi chẳng được tốt như ý người ấy đang chờ đợi. Chính cái chỗ soi mói (của người hay giận), chỗ nhìn kỹ tỉ mỉ (của người có ý trí) là tướng chung cho cả hai tánh hạnh khác nhau và đối chọi nhau” (trích Phân biệt Tánh hạnh - Giải thoát luận - quangduc.com). Ở đây “ý trí” được dùng để chỉ người có năng lực ý thức + trí tuệ, đối lập với người hay giận.

Một đoạn ngữ liệu khác: “... khi nhận thức sự vật là ta đã dùng ý trí tác động với lục căn hòa hợp với lục trần mới có lục thức...” (trích Cốt tủy kinh viên giác - quangduc.com). Ở đây “ý trí” là một cơ năng, một thành tố trong tiến trình nhận thức.

Như vậy, “ý trí” đồng nghĩa với mưu trí, trí tuệ, thông tuệ (được dùng nhiều trong Phật học); trong khi “ý chí” lại là sự quyết tâm đạt được mục đích nào đó. Trong tiếng Việt “ý trí” không phải là một từ thông dụng, nhưng không vì thế mà cho rằng đây là một từ viết sai chính tả như kết luận của Vua Tiếng Việt.

Mẫn Nông (CTV)

Bình luận

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Tin cùng chuyên mục

Trải nghiệm mùa hè ý nghĩa với “Học kỳ quân đội”

Trải nghiệm mùa hè ý nghĩa với “Học kỳ quân đội”

Giáo dục
(Baothanhhoa.vn) - Trong sắc áo xanh quân phục, hơn 300 “chiến sĩ nhí” háo hức bước vào môi trường quân ngũ, bắt đầu những ngày rèn luyện xa gia đình. Với nhiều em, đó là lần đầu tiên tự lập trong một môi trường kỷ luật, cũng là khởi đầu cho một mùa hè nhiều trải...
Bùng nổ du lịch cuối tuần và áp lực các điểm đến

Bùng nổ du lịch cuối tuần và áp lực các điểm đến

Du lịch
(Baothanhhoa.vn) - Sự phát triển của hạ tầng giao thông cùng nhu cầu nghỉ dưỡng ngắn ngày gia tăng đã khiến du lịch tại Thanh Hóa hiện nay trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Đặc biệt vào những ngày cuối tuần của mùa cao điểm du lịch hè năm 2026, hàng chục nghìn lượt du...
Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc Dao

Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc Dao

Văn hóa - Giải trí
(Baothanhhoa.vn) - Cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội, những năm qua, các địa phương trên địa bàn tỉnh có đồng bào dân tộc Dao sinh sống luôn quan tâm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Dao. Nhờ đó, các giá trị văn hóa truyền thống được gìn giữ, phát huy trong cộng đồng.
Chứng nhận tín nhiệm mạng
Việt Long Phần mềm tòa soạn
hội tụ thông minh