“Hạt nhân” ở bản làng vùng cao
Trên những bản làng vùng cao xứ Thanh, “hạt nhân” đoàn kết và phát triển thường là các đảng viên, bí thư chi bộ, trưởng bản, già làng và người có uy tín. Họ đóng vai trò tiên phong trong việc xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống mới, vận động dân bản chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tham gia giữ gìn bản sắc văn hóa.

Cán bộ bản Suối Tôn, xã Phú Lệ bám sát cơ sở, tuyên truyền pháp luật cho người dân.
Ông Vi Văn Tươi, Bí thư Chi bộ bản Thủy Thành, xã Sơn Thủy không chỉ được người dân tin tưởng, tín nhiệm mà còn biết đến là người đi đầu trong phong trào phát triển kinh tế gia đình, là tấm gương để người dân trong bản học tập, làm theo. Hiện nay, mô hình kinh tế của ông Tươi luôn duy trì từ 8 đến 10 con bò sinh sản và khoảng 400 con gia cầm. Gia đình ông còn có hơn 5ha luồng, 5ha vầu kết hợp kinh doanh lâm sản. Thu nhập bình quân từ chăn nuôi và rừng khoảng trên 100 triệu đồng mỗi năm, trong đó riêng luồng và vầu cho 70 đến 80 triệu đồng/năm. Mô hình này tạo cơ sở để chi bộ vận động bà con dân bản học tập phát triển sản xuất, giảm nghèo bền vững.
Không dừng ở việc phát triển kinh tế gia đình, từ năm 2015 đến nay, ông Tươi còn trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ con giống, ngày công cho các hộ khó khăn xây dựng mô hình sản xuất, chăn nuôi. Nhờ đó đến nay đã có 4 hộ trong bản thoát nghèo, ổn định cuộc sống. Kết quả này cho thấy, vai trò quan trọng của “hạt nhân” là đảng viên ở vùng cao, nơi điều kiện sản xuất còn khó khăn, thu nhập phụ thuộc nhiều vào thời tiết và thị trường.
Đồng chí Lê Đình Xuân, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Thủy cho rằng, những đảng viên như ông Vi Văn Tươi là cầu nối quan trọng giữa Đảng với Nhân dân. Khi đảng viên làm trước, dân dễ tin và làm theo, nhờ đó phong trào phát triển kinh tế cũng đi vào thực chất hơn. Đây là điều kiện để ổn định đời sống và giữ vững an ninh ở địa bàn.
Còn tại xã Pù Nhi, “hạt nhân” lại thể hiện rõ trong vận động thay đổi nếp sống. Ông Lâu Minh Pó, 65 tuổi, dân tộc Mông, nguyên Phó Bí thư Huyện ủy Mường Lát cũ, khi nghỉ hưu về sinh sống tại bản Pù Toong. Ông Pó là người tiên phong triển khai Đề án tuyên truyền thực hiện nếp sống văn hóa trong tang lễ vùng đồng bào Mông của tỉnh. Bản Pù Toong có 100% dân số là đồng bào Mông. Tập quán ma chay trước đây kéo dài, tốn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống. Bởi vậy, ông Pó cùng chi bộ và ban quản lý bản kiên trì tuyên truyền, đưa nội dung thực hiện nếp sống mới vào hương ước, quy ước để cùng làm.
Kết quả rõ nhất là việc vận động đưa người chết vào quan tài khi mai táng và rút ngắn thời gian làm lễ. Bà con vẫn giữ những nét văn hóa phù hợp, nhưng giảm dần các hủ tục gây lãng phí. Ông Pó cũng vận động bà con không di cư tự do, tập trung làm ăn tại địa phương. Những việc này đòi hỏi sự kiên trì và uy tín cá nhân, vì liên quan trực tiếp đến tập quán lâu đời và tâm lý của cộng đồng.
Tại xã Trung Hạ, ông Lữ Văn Tiu, bản Lang, người có uy tín dân tộc Thái được bà con tin tưởng. Ông vận động Nhân dân hiến hàng nghìn m2 đất, đóng góp tiền và ngày công làm đường giao thông nội bản. Ông cũng vận động các hộ di dời chuồng gia súc, gia cầm ra xa nơi ở để bảo đảm vệ sinh môi trường. Nhờ sự thống nhất trong bản, bản Lang đã đạt chuẩn NTM năm 2020. Cách làm ở đây cho thấy, khi người có uy tín đứng ra vận động và làm gương thì việc liên quan quyền lợi của từng hộ như hiến đất, đóng tiền, công sức sẽ thuận lợi hơn.
Ở bản Suối Tôn, xã Phú Lệ, ông Mùa A Lo là người có uy tín. Ông tham gia cùng ban quản lý bản, phối hợp với cấp ủy, chính quyền tổ chức tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với Nhân dân. Những nội dung liên quan đến chính sách đầu tư cho đồng bào dân tộc thiểu số được ông theo sát, góp ý thẳng thắn, đúng trọng tâm. Ông cũng vận động bà con phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; đồng thời tuyên truyền dân bản không tin, không nghe luận điệu xuyên tạc, không di cư tự do, giữ gìn an ninh trật tự, từng bước xóa bỏ hủ tục.
Đồng chí Nguyễn Thị Phương, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh cho biết: Thanh Hóa hiện có khoảng 1.280 người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là lực lượng quan trọng trong công tác dân vận ở vùng cao. Họ là “cánh tay nối dài” của cấp ủy, chính quyền ở cơ sở, góp phần đưa chủ trương đến đúng đối tượng, giảm khoảng trống thông tin, hạn chế mâu thuẫn phát sinh. Khi bản làng có những “hạt nhân” như vậy, việc khó sẽ có người đứng ra cùng giải quyết, phong trào sẽ có người dẫn dắt và sự đồng thuận sẽ được củng cố. Đây là cơ sở quan trọng để vùng cao Thanh Hóa phát triển bền vững, gắn phát triển kinh tế với giữ vững ổn định địa bàn.
Bài và ảnh: Xuân Minh





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu