Đánh thức nguồn lực từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) đang trở thành những nguồn lực quan trọng để đổi mới quản trị, nâng cao năng suất và tạo dư địa tăng trưởng. Với Thanh Hóa, yêu cầu đặt ra không chỉ là đầu tư hạ tầng hay triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, mà phải đưa tri thức và công nghệ vào giải quyết những bài toán cụ thể của chính quyền, doanh nghiệp và người dân.

Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong nghiên cứu, nhân giống tại Viện Nông nghiệp Thanh Hóa.
Từ chính quyền số đến những tiện ích gần dân
Sau hơn 1 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, KH&CN, ĐMST và CĐS đã hiện diện rõ hơn trong nhiều lĩnh vực, 100% sở, ngành, địa phương ban hành kế hoạch thực hiện, gắn nhiệm vụ với trách nhiệm người đứng đầu. Quan trọng hơn, công nghệ dần trở thành công cụ tổ chức công việc, khai thác dữ liệu và nâng cao chất lượng phục vụ. Toàn tỉnh đã xử lý hơn 6,2 triệu lượt văn bản điện tử, tỷ lệ ký số đạt trên 98%. Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh vận hành 18 phân hệ; “Ứng dụng số Thanh Hóa” cung cấp 47 tiện ích. Phần mềm đánh giá hiệu suất KPI/OKR tích hợp bảng điều khiển và trí tuệ nhân tạo (AI) cũng được thí điểm tại phường Hạc Thành và phường Đông Sơn, hướng tới điều hành dựa trên dữ liệu.
Tại phường Sầm Sơn, hiệu quả của CĐS được thể hiện bằng cách làm gần dân của tổ dịch vụ công lưu động. Thay vì chờ người dân đến trụ sở, tổ công tác trực tiếp về các nhà văn hóa khu dân cư để hướng dẫn thủ tục hộ tịch, chứng thực, cư trú, bảo trợ xã hội, người có công, đất đai. Cán bộ còn hỗ trợ kích hoạt VNeID, đăng ký tài khoản Cổng dịch vụ công quốc gia, nộp hồ sơ, thanh toán trực tuyến và tra cứu kết quả. Với người cao tuổi hoặc chưa quen sử dụng điện thoại thông minh, từng thao tác được giải thích, thực hiện ngay tại chỗ. Mô hình vừa giảm thời gian, chi phí đi lại, vừa giúp người dân hình thành kỹ năng số; đồng thời cho thấy công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi đi cùng đổi mới phương thức phục vụ.
Thanh Hóa đồng thời mở rộng hạ tầng và phổ cập kỹ năng số. Toàn tỉnh có 9.808 trạm BTS, trong đó 894 trạm 5G; 100% trung tâm xã, phường và 99,89% thôn, bản có sóng di động. Các chương trình “Bình dân học vụ số”, “Ứng dụng AI trong công việc và cuộc sống” thu hút gần 52.000 người; hơn 17.000 học viên tham gia khóa học trực tuyến, tạo nền tảng để thu hẹp khoảng cách tiếp cận công nghệ.
Đưa tri thức, công nghệ vào sản xuất và thị trường
Nếu CĐS góp phần đổi mới quản trị, thì KH&CN và ĐMST phải tạo ra sản phẩm, quy trình và giá trị mới. Năm 2026, UBND tỉnh phê duyệt 22 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, tập trung vào nông nghiệp công nghệ cao, y - dược, tài nguyên và môi trường, du lịch, CĐS và công nghệ mới. Nghiên cứu vì thế được kéo gần hơn với những bài toán phát triển của địa phương. AI kết hợp thiết bị bay không người lái đã hỗ trợ giám sát rừng, cảnh báo cháy và theo dõi biến động đất đai; blockchain phục vụ truy xuất nguồn gốc nông sản, thực phẩm. Trong y tế, robot hỗ trợ phẫu thuật nội soi, công nghệ ICG được ứng dụng trong phẫu thuật ung thư; AI được nghiên cứu để dự báo biến chứng sau phẫu thuật. AI và internet vạn vật cũng được thử nghiệm trong nông nghiệp tuần hoàn, quảng bá du lịch miền núi...

Cán bộ tổ dịch vụ công lưu động phường Sầm Sơn hướng dẫn người dân thực hiện các thủ tục hành chính.
Cùng với đó, kinh tế số mở thêm không gian thị trường khi 50% doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sàn thương mại điện tử, 40% kinh doanh trên thiết bị di động và 48% dân số mua sắm trực tuyến. Đưa sản phẩm OCOP lên nền tảng số và tăng cường quảng bá đã giúp doanh thu nước mắm Lê Gia tăng 57%, mắm tôm Lê Gia tăng 42%, nước mắm cốt TH tăng 30%.
Hệ sinh thái ĐMST của tỉnh có 32 doanh nghiệp KH&CN, 2 vườn ươm hoặc đơn vị hoạt động ĐMST và hơn 60 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động ĐMST đứng thứ 7/34 tỉnh, thành phố; chỉ số ĐMST cấp tỉnh năm 2025 đứng thứ 16/34.
Giám đốc Sở KH&CN Thanh Hóa Trần Duy Bình, cho biết: “Để phát huy hiệu quả nguồn lực từ KHCN, ĐMST Thanh Hóa xác định lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo, ưu tiên giải quyết những điểm nghẽn và bài toán lớn của tỉnh thay vì chạy theo số lượng đề tài. Mỗi nhiệm vụ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, xác định rõ sản phẩm đầu ra, đơn vị tiếp nhận và khả năng nhân rộng; đồng thời tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, HTX ngay từ khâu đặt hàng. Bên cạnh đó, việc liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp cần được cụ thể hóa bằng các chương trình, dự án, nguồn lực và cam kết đầu ra. Cùng với việc chuẩn hóa dữ liệu, phát triển nhân lực công nghệ và hoàn thiện hạ tầng ĐMST, đội ngũ trí thức cần tham gia sâu hơn vào tư vấn, phản biện, kết nối nghiên cứu với thị trường và phổ cập kỹ năng số, AI trong cộng đồng, qua đó đưa KH&CN thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội”.
Trần Hằng - Xuân Lâm (Sở KH&CN)





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu