Chuyển đổi số trong giáo dục: Không chỉ là câu chuyện công nghệ
“Chuyển đổi số không chỉ là việc đưa công nghệ vào nhà trường mà là quá trình thay đổi cách quản trị, tổ chức dạy học và xây dựng môi trường học tập hiện đại”. Đây là thông điệp được nhiều chuyên gia nhấn mạnh tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số: Từ chính sách đến thực tiễn địa phương” diễn ra ngày 24/7 tại Trường Đại học Hồng Đức.

Các đại biểu dự hội thảo.
Theo các nhà khoa học, giáo dục đang bước vào giai đoạn chuyển đổi từ số hóa từng hoạt động riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái học tập và quản trị dựa trên dữ liệu.
Công nghệ số tạo điều kiện mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, cá nhân hóa việc học, nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên, quá trình này cũng bộc lộ nhiều thách thức về hạ tầng, chuẩn dữ liệu, khả năng liên thông, năng lực số của đội ngũ, an toàn thông tin, quyền riêng tư và liêm chính học thuật.

PGS.TS. Ngô Chí Thành, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức phát biểu tại hội thảo.
Phát biểu chào mừng tại hội thảo, PGS.TS. Ngô Chí Thành, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức, cho rằng: “Sự phát triển của công nghệ đang làm thay đổi phương thức tiếp cận tri thức, cách thức tổ chức dạy và học, mô hình quản trị cũng như mối quan hệ giữa nhà trường, người dạy và người học”.
Theo ông, chuyển đổi số mở ra cơ hội nâng cao chất lượng giáo dục nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới về thể chế, cơ sở vật chất và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và người học.

Đại biểu tham luận tại hội thảo.
Một nội dung thu hút nhiều sự quan tâm tại hội thảo là tác động của trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là AI tạo sinh, đối với giáo dục.
Các chuyên gia nhận định AI đang mở ra nhiều khả năng hỗ trợ dạy học, học tập và nghiên cứu, song cũng kéo theo nguy cơ lạm dụng công cụ, suy giảm năng lực tư duy độc lập, lệ thuộc công nghệ và vi phạm liêm chính học thuật. Vì vậy, đổi mới giáo dục trong thời đại số cần song hành với việc xây dựng các chuẩn mực sử dụng công nghệ và nâng cao năng lực số cho cả người dạy và người học.

Đại biểu tham luận tại hội thảo.
Hội thảo nhận được 133 bài báo khoa học, tập trung vào các chủ đề như chính sách và quản trị chuyển đổi số; phát triển năng lực số; ứng dụng trí tuệ nhân tạo; đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá; cũng như kinh nghiệm chuyển hóa chính sách thành thực tiễn ở các địa phương.
Nhiều mô hình và giải pháp được chia sẻ đã cho thấy khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn có thể được thu hẹp nếu có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách, nhà trường và đội ngũ giáo viên.
Các ý kiến tại hội thảo thống nhất, chuyển đổi số chỉ thực sự mang lại giá trị khi hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu người học và phù hợp với điều kiện của từng cơ sở giáo dục. Đây cũng là cơ sở để các địa phương tham khảo, hoàn thiện mô hình triển khai, góp phần đưa các chủ trương đổi mới giáo dục đi vào thực tiễn một cách hiệu quả và bền vững.
Dưới đây là một số tham luận trình bày tại hội thảo:
Mô hình chuyển đổi số trong giáo dục: Thách thức và ứng dụng
GS.TS. Trần Trung, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Thực tế cho thấy, chuyển đổi số trong giáo dục đã đạt nhiều kết quả tích cực. Hầu hết cơ sở giáo dục đã được kết nối Internet băng thông rộng, hàng chục triệu hồ sơ được số hóa và phần lớn thủ tục hành chính đã được thực hiện trực tuyến. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn như khoảng cách số giữa các vùng miền, dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông và nguồn nhân lực số còn hạn chế. Để khắc phục, cần thực hiện 6 giải pháp trọng tâm, gồm: xây dựng hệ sinh thái dữ liệu thống nhất, hồ sơ học tập số toàn diện, nền tảng dùng chung quốc gia, hệ sinh thái AI an toàn và có đạo đức, xóa bỏ khoảng cách số và đánh giá thực chất hiệu quả chuyển đổi số. Bên cạnh đó, mô hình chuyển đổi số được xây dựng trên 5 trụ cột: hoàn thiện thể chế và chính sách; phát triển hạ tầng số và dữ liệu; đổi mới phương thức dạy học; nâng cao năng lực số cho đội ngũ giáo viên và người học; tăng cường hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp để xây dựng hệ sinh thái giáo dục bền vững. Điểm cốt lõi của chuyển đổi số là lấy người học làm trung tâm. Công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo không phải là mục tiêu cuối cùng mà chỉ là công cụ giúp nâng cao chất lượng dạy và học, cá nhân hóa việc học tập, xây dựng môi trường giáo dục thông minh và tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Năng lực trung gian số của cha mẹ trong giáo dục nhân cách học sinh phổ thông
Bà Nguyễn Thị Thu Anh, Thành viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, trẻ em Việt Nam đang lớn lên cùng internet và các nền tảng số. Trong bối cảnh đó, năng lực trung gian số của cha mẹ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là khả năng định hướng, hỗ trợ và đồng hành cùng con trong quá trình sử dụng công nghệ, giúp trẻ khai thác hiệu quả môi trường số, đồng thời hình thành những giá trị và phẩm chất tích cực. Cha mẹ có thể thực hiện vai trò này thông qua bốn hình thức: cùng con xây dựng nguyên tắc sử dụng thiết bị số; thường xuyên trò chuyện, định hướng; làm gương bằng chính hành vi sử dụng công nghệ; và đồng hành cùng con trong các hoạt động trên môi trường mạng. Tuy nhiên, việc thực hiện trung gian số vẫn còn nhiều khó khăn do sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng chưa thực sự hiệu quả. Nhiều gia đình còn thiên về cấm đoán thay vì đối thoại, chú trọng thành tích học tập hơn giáo dục giá trị sống trên không gian mạng. Trong khi đó, giáo dục công dân số ở nhà trường chưa được triển khai đồng bộ, hoạt động tập huấn cho phụ huynh còn hạn chế, còn cộng đồng thiếu các tài liệu và mô hình hỗ trợ có tính kết nối. Để nâng cao hiệu quả giáo dục nhân cách học sinh trong thời đại số, cần xây dựng văn hóa gia đình số tích cực; tăng cường phối hợp giữa gia đình và nhà trường; tích hợp giáo dục nhân cách số vào chương trình giáo dục; lồng ghép nội dung này trong phong trào “Bình dân học vụ số”; đồng thời hướng dẫn trẻ sử dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với từng độ tuổi. |
Linh Hương - Việt Đức







Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu