Buồn vui làng nghề sau tết
Sau tết, khi những chuyến hàng cao điểm đã rời đi, nhiều làng nghề ở Thanh Hóa trở lại nhịp sản xuất thường ngày. Nhưng phía sau sự bình lặng ấy là một thực tế, trong khi nhiều người vẫn ở lại giữ nghề, không ít lao động trẻ rời quê tìm việc mới.

Ông Lê Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội sản xuất nón lá Trường Giang trao đổi với cơ sở sản xuất về mẫu nón và chất lượng sản phẩm.
Giữ nghề cũ, chọn đường mới
Buổi sáng ở các làng biển xã Vạn Lộc bắt đầu khi những con tàu trở về sau chuyến biển đêm. Làng biển thức dậy cùng nhịp tàu cập bến. Bếp than đã đỏ lửa, những người phụ nữ xếp cá lên vỉ nướng, trở tay liên tục để cá chín đều. Trên các giàn tre, cá khô được xếp chờ hong nắng.
Ở các xã ven biển như Vạn Lộc, từ lâu đã hình thành sự phân công công việc rõ ràng: đàn ông và thanh niên vươn khơi đánh bắt xa bờ, còn phụ nữ đảm nhiệm các công việc hậu cần như thu mua, phơi cá, nướng cá, làm nước mắm hay sơ chế hải sản. Xã Vạn Lộc hiện có 440 phương tiện khai thác thủy sản, trong đó 160 tàu đánh bắt xa bờ, với sản lượng khai thác mỗi năm đạt từ 26.000 - 27.000 tấn hải sản. Song song với hoạt động khai thác, hơn 200 hộ làm dịch vụ hậu cần nghề cá như thu mua, chế biến hải sản và cung cấp nhu yếu phẩm cho tàu cá. Chuỗi nghề trên đang tạo sinh kế cho hàng nghìn lao động địa phương.
Nhưng phía sau nhịp làm nghề sôi động ấy lại là một nỗi lo khác. Theo ông Lê Văn Đua, Trưởng Phòng Kinh tế, UBND xã Vạn Lộc, nhiều chủ tàu đang gặp khó trong việc tìm bạn thuyền. Lớp trẻ không còn mặn mà với nghề biển khi công việc vất vả, thời gian lênh đênh dài ngày và thu nhập phụ thuộc nhiều vào ngư trường. Có chuyến biển phải lùi lại vì thiếu người, thậm chí có tàu đầu tư hàng tỷ đồng vẫn phải nằm bờ.
Câu chuyện lao động rời nghề không chỉ diễn ra ở những làng biển như Vạn Lộc. Ở nhiều làng nghề trong tỉnh, những công việc từng gắn bó lâu đời với mỗi gia đình cũng đang dần thưa người nối tiếp. Về làng nón Trường Giang, xã Trường Văn, nhịp làm nghề hiện lên trong một không gian khác. Dưới những mái hiên thấp, vài người phụ nữ ngồi chằm nón. Trong số đó, bà Lê Thị Lý (68 tuổi), cặm cụi với công việc đã gắn bó gần trọn cuộc đời. Bà kể mình học nghề từ bà ngoại rồi đến mẹ khi mới 10 tuổi. “Ngày trước nhà làm ruộng là chính. Nhưng đến mùa giáp hạt, chính nghề nón nuôi sống cả nhà”, bà Lý nói. Một chiếc nón phải qua các công đoạn: Chọn lá, là lá, xếp lá, lồng vành rồi khâu từng lớp. Công việc quen tay đến mức bà Lý vừa trò chuyện, mũi kim vẫn đi đều trên vành nón. Nhưng bà Lý cũng thừa nhận, lớp người làm nghề ngày càng ít. Trong xóm, nhiều nhà từng chằm nón nay đã bỏ nghề. Con cháu trong gia đình bà chọn đi làm công ty, ít người còn gắn bó với nghề như thế hệ trước. Lê Thị Thu Trang (23 tuổi) là một trong số đó. Sinh ra trong gia đình làm nón, Trang từng quen với việc phụ mẹ xếp lá, lồng vành nón mỗi buổi chiều. Nhưng sau khi học xong phổ thông, cô nộp hồ sơ vào một doanh nghiệp may trong Khu Công nghiệp Hoàng Long. “Làm nón ở nhà thu nhập không ổn định. Đi làm công ty tuy vất vả hơn nhưng lương đều hàng tháng”, Trang nói.
Giữ "lửa" nghề trong nhịp mưu sinh mới
Sau mùa tết, nhịp sống ở nhiều làng nghề xứ Thanh chậm lại. Nhưng phía sau sự yên ả ấy là một thực tế, ở các làng biển, nhiều chủ tàu khó tìm bạn thuyền; còn ở các làng nghề thủ công, lớp lao động trẻ gắn bó với nghề ngày càng thưa dần. Trước tình hình đó, nhiều địa phương đang tìm cách giữ sinh kế cho người dân, đồng thời tạo điều kiện để người trẻ có thể tiếp tục gắn bó với nghề truyền thống.

Người dân xã Vạn Lộc phơi khô hải sản.
Theo ông Lê Văn Đua, Trưởng Phòng Kinh tế, UBND xã Vạn Lộc, địa phương khuyến khích các cơ sở chế biến hải sản đầu tư thiết bị sấy, bảo quản, từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Khi hoạt động chế biến và tiêu thụ ổn định hơn, nghề biển cũng có thêm điều kiện tạo việc làm bền vững, giúp người lao động yên tâm gắn bó lâu dài. Đồng thời, các tổ đoàn kết khai thác hải sản trên biển tiếp tục được duy trì để hỗ trợ ngư dân trong quá trình đánh bắt, trao đổi thông tin ngư trường và tiêu thụ sản phẩm.
Từ những định hướng đó, nhiều cơ sở tại xã Vạn Lộc đã chủ động mở rộng sản xuất. Tại Công ty Phương Oanh, thôn Thành Lập, mỗi năm khoảng 100 tấn hải sản được thu mua trực tiếp từ các tàu cá vừa cập bến để chế biến. Hải sản được nướng, phơi hoặc làm khô ngay trong ngày rồi chuyển đi tiêu thụ ở nhiều tỉnh, thành. Hoạt động của cơ sở không chỉ tạo đầu ra ổn định cho ngư dân, mà còn giúp nhiều lao động địa phương có việc làm thường xuyên.
Từ những lò cá nướng ven biển, nhiều hộ dân trong xã cũng từng bước mở rộng quy mô thu mua và chế biến. Chuỗi nghề gắn với biển vì thế vẫn được duy trì, tạo sinh kế cho hàng trăm lao động địa phương. Với nhiều gia đình, đây cũng là cách để con cháu có thể ở lại quê hương làm việc, tiếp tục nối nghề gắn bó lâu đời với vùng biển này.
Ở làng nón Trường Giang, xã Trường Văn, chính quyền địa phương và Hiệp hội sản xuất nón lá cũng đang tìm cách giữ nghề theo hướng khác. Theo ông Lê Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội sản xuất nón lá Trường Giang, hiện toàn xã có gần 2.000 hộ tham gia làm nón, với hơn 5.000 lao động, chủ yếu là phụ nữ. Bên cạnh việc duy trì sản xuất truyền thống, nhiều cơ sở đang từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ.
Một số người làm nghề đã chủ động thích nghi với sự thay đổi của thị trường. Tại cơ sở nón lá Hùng Toan, anh Lê Văn Chung (27 tuổi), lập trang facebook giới thiệu sản phẩm, đăng tải hình ảnh các mẫu nón mới để kết nối với khách hàng ở nhiều địa phương. Nhờ đó, nón lá Trường Giang không chỉ bán tại địa phương mà còn được đặt làm quà lưu niệm và quà tặng du lịch.
Những chiếc nón vẫn được khâu từng mũi chỉ, những mẻ cá vẫn được hong nắng sau mỗi chuyến biển. Trong nhịp sống ấy, câu chuyện của làng nghề không chỉ là chuyện làm ăn, mà còn là hành trình gìn giữ nghề. Khi những giá trị truyền thống vẫn được nối tiếp qua từng thế hệ, làng nghề xứ Thanh vẫn có thể tìm thấy con đường đi tiếp giữa nhịp mưu sinh mới của thời đại.
Bài và ảnh: Tăng Thúy





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu