Bồi dưỡng 650 người làm đội ngũ hạt nhân phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 233/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035” (Đề án).

Cán bộ Bộ đội biên phòng tuyên truyền pháp luật cho người dân. (Ảnh: Đức Thọ/TTXVN)
Đề án được thực hiện từ năm 2026 đến hết năm 2035 tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự xã hội. Trong đó, ưu tiên thôn, xã đặc biệt khó khăn; địa bàn còn hủ tục, tập quán lạc hậu, nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế.
Khuyến khích các địa phương khác triển khai thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.
Đổi mới toàn diện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để tạo đột phá về nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật
Mục đích của Đề án là đổi mới toàn diện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để tạo đột phá về nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật; hình thành thói quen tự giác tìm hiểu pháp luật phù hợp với đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; góp phần thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước.
Từ nay đến năm 2030, Đề án phấn đấu đào tạo, bồi dưỡng khoảng 650 người theo chương trình, tài liệu của Đề án để trở thành đội ngũ hạt nhân nòng cốt triển khai thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại các địa phương.
Phấn đấu 100% địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoàn thành xây dựng, ban hành chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật đặc thù phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bảo đảm nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đối tượng và đặc điểm vùng miền. Khuyến khích các địa phương còn lại xây dựng, ban hành chương trình, tài liệu của địa phương mình.
Phấn đấu số hóa 70% chương trình, tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật của Đề án và công bố công khai trên Cổng thông tin phổ biến, giáo dục pháp luật Quốc gia, Cổng thông tin phổ biến, giáo dục pháp luật địa phương, mạng internet hoặc được xuất bản, phát hành bằng hình thức phù hợp.
Phấn đấu mỗi xã đặc biệt khó khăn có ít nhất 2 người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Đề án phấn đấu mỗi xã đặc biệt khó khăn có ít nhất 2 người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được bồi dưỡng theo bộ chương trình, tài liệu của Đề án để triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn.
Khoảng 50% người dân sinh sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; 60% người dân sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự; 70% người dân thuộc nhóm dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù được phổ biến, giáo dục pháp luật bằng hình thức phù hợp.
Trong số đó, ít nhất 30% hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, 50% hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua môi trường số.
Bốn nhóm nhiệm vụ, giải pháp
Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án thực hiện đồng bộ 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:
1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Chuyển đổi nhận thức của các cấp, các ngành nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức về vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng.
Bảo đảm các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục, kiên trì, kiên định, hiệu quả, từng bước nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số, người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Ưu tiên bố trí nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Lồng ghép thực hiện các hoạt động của Đề án trong các chương trình, kế hoạch công tác của cấp ủy, chính quyền các cấp; xác định việc hoàn thành nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật là một tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp trong việc thực hiện Đề án phù hợp đặc thù của địa phương, bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn.
2. Xây dựng, phát triển và nâng cao năng lực cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Xây dựng đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có trình độ, kiến thức, hiểu biết pháp luật, am hiểu phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, ưu tiên người có khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
Thu hút sự tham gia và tăng cường vai trò của bí thư chi bộ, trưởng thôn, bản; người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, bản; chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu các tổ chức tôn giáo trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Định kỳ hằng năm tổ chức bồi dưỡng, tập huấn về kiến thức pháp luật, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên biệt (kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số, sử dụng AI, mạng xã hội trong phổ biến, giáo dục pháp luật...) để nâng cao năng lực cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
Về nội dung, Đề án xây dựng nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với từng nhóm đối tượng gắn với phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; gắn với phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết sinh kế, việc làm, an sinh xã hội; gắn với việc tuyên truyền về giáo lý, giáo luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số có đạo.
Đẩy mạnh truyền thông chính sách, nhất là chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có tác động lớn đến xã hội, người dân tộc thiểu số, người dân sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong đó tập trung phổ biến, giáo dục pháp luật về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; lợi ích của việc chấp hành pháp luật, tuân thủ pháp luật; tác động của chính sách, pháp luật đối với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Xây dựng các tiểu phẩm, phóng sự, câu chuyện giải quyết tình huống pháp luật mang ý nghĩa tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật liên quan đến phong tục tập quán, văn hóa truyền thống, đời sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...
Về phương pháp, hình thức, củng cố, xây dựng và duy trì các mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật tại cộng đồng, hướng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về cơ sở, thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số như ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi số, sử dụng các phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội (Youtube, Facebook, Zalo, Twitter...); tổ chức “Ngày Pháp luật Việt Nam;” ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật bằng tiếng dân tộc thiểu số với hình thức phù hợp cho đồng bào dân tộc thiểu số không biết tiếng phổ thông; phát thanh, truyền hình các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật theo chương trình, tài liệu của Đề án vào khung giờ thu hút đông đảo khán giả, thính giả...
4. Nâng cao năng lực, giám sát, đánh giá thực hiện Đề án
Định kỳ tổ chức đối thoại, hội nghị, hội thảo, tọa đàm và các hoạt động khác để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, mô hình, cách làm hay, hiệu quả; từng bước đổi mới, nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn của Đề án.
Tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ gắn với thực tiễn, đặc thù của Đề án và hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Đề án bằng hình thức phù hợp, thực chất nhằm kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bất cập và báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh (nếu cần).../.
Theo TTXVN





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu