Về nghĩa của chữ “canh” trong “canh kệ”

(Baothanhhoa.vn) - “Tầm nguyên từ điển” của Vân Hạc Lê Văn Hòe là cuốn sách được Quốc Học Thư Xã ấn hành lần đầu năm 1942, và NXB Trẻ tái bản quý I năm 2026. Trong chuyên mục “Cà kê chuyện chữ nghĩa” số trước, chúng tôi đã bàn đến cách giải thích từ nguyên nghĩa một số từ, cụm từ như: “phiền phức”, “phức tạp”, “giá họa”, “trọng tài”, của sách này. Trong chuyên mục này chúng tôi tiếp tục đề cập đến cách giảng chữ “canh” trong “canh kệ”.

Về nghĩa của chữ “canh” trong “canh kệ”

“Tầm nguyên từ điển” của Vân Hạc Lê Văn Hòe là cuốn sách được Quốc Học Thư Xã ấn hành lần đầu năm 1942, và NXB Trẻ tái bản quý I năm 2026. Trong chuyên mục “Cà kê chuyện chữ nghĩa” số trước, chúng tôi đã bàn đến cách giải thích từ nguyên nghĩa một số từ, cụm từ như: “phiền phức”, “phức tạp”, “giá họa”, “trọng tài”, của sách này. Trong chuyên mục này chúng tôi tiếp tục đề cập đến cách giảng chữ “canh” trong “canh kệ”.

Về nghĩa của chữ “canh” trong “canh kệ”

Mục “canh kệ”, “Tầm nguyên từ điển” giảng: “CANH KỆ 賡偈: CANH chính nghĩa là kế-tục, liên-tiếp không gián đoạn. Đọc canh là đọc theo giọng e-a cho câu tán (tức lời chúc), kế-tục, liên-tiếp nhau không ngắt khúc. KỆ là tên gọi riêng các bài thơ trong kinh Phật hoặc các bài thơ do các nhà tu-hành đạo Phật làm ra nói về đạo”.

Theo chúng tôi, ở mục này lời giảng của Lê Văn Hòe chỉ đúng một phần, chứ chưa chặt chẽ về mặt từ nguyên và ngữ nghĩa.

Trước hết, về chữ 賡 (canh). Nghĩa gốc của “canh” (賡) là: tiếp nối, kế tục, liên tiếp. Đây là cách giảng hoàn toàn đúng. Trong Phật giáo, “kệ” (偈) là bài kệ tụng, bài thơ ngắn dùng để diễn đạt giáo lí. Điều này cũng không sai. Tuy nhiên, nếu ghép thành “canh kệ” (賡偈), thì nó có nghĩa là: nối tiếp bài kệ; họa lại bài kệ; làm kệ tiếp theo một bài kệ có trước. Nghĩa là ở đây, “canh” (賡) đóng vai trò động từ “tiếp nối”, giống như: “canh hòa” (賡和) = dùng cùng vần hoặc cùng ý đề của người khác để xướng họa; họa thơ, họa từ; “canh tục” (賡續) = tiếp tục,... Vì vậy, nếu hiểu “canh kệ” 賡偈 là “đọc kệ liên tiếp, bài nọ tiếp bài kia”, thì có thể chấp nhận được. Nhưng đoạn giải thích của Lê Văn Hòe “Đọc canh là đọc giọng ê-a cho câu tán (tức lời chúc), kế tục, liên tiếp nhau không ngắt khúc”, thì lại thành cách diễn giải thực hành nghi lễ, chứ không phải nghĩa từ nguyên của chữ 賡. Bởi vì, chữ “canh” (賡) bản thân không có nghĩa là “đọc ê-a”, cũng không có nghĩa riêng là “câu tán” hay “lời chúc”, mà nghĩa cốt lõi của nó chỉ là nối tiếp, tiếp tục, họa theo. Nói cách khác, “canh kệ” (賡偈) không tự nó mang nghĩa “đọc giọng ê-a cho câu tán”, mà chỉ có thể hiểu là “tụng kệ nối tiếp nhau”.

Ngoài ra còn một điểm đáng lưu ý khác. Khi tra các từ điển Hán ngữ lớn và thuật ngữ Phật giáo, chúng tôi không tìm thấy “canh kệ” (賡偈). Vậy, “canh kệ” là gì và từ đâu mà ra?

Theo chúng tôi, “canh kệ” đồng với nghĩa “kinh kệ” 經偈. Việt Nam tự điển (Hội Khai trí Tiến đức) giảng: “kinh-kệ • Sách kinh và câu kệ <> Vào chùa đọc kinh kệ”. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê – Vietlex) giảng: “kinh kệ • 經偈 d. sách kinh của đạo Phật [nói khái quát]. “Kể từ ngày đi quy, nghe giảng giải kinh kệ, bác tôi cũng có tỏ lòng thương yêu tôi hơn trước đôi chút”. (Mạnh Phú Tư).

Chữ “canh” do “kinh” 經 mà ra. Sự biến đổi ngữ âm kinh ↔ canh ta còn thấy trong nhiều trường hợp như: sinh ↔ sanh; thinh ↔ thanh (thinh âm ↔ thanh âm); linh lợi ↔ lanh lợi; tính ↔ tánh; bính ↔ bánh.

Tiếng Việt có thành ngữ: “Đang yên đang lành, đọc canh phải tội”; hay “Thầy dốt mà đọc kinh/canh khôn/ Đến câu đọc dồn ối à ê a”. Nếu hiểu “canh” có nghĩa là tiếp nối như Lê Văn Hòe giảng, câu nói dân gian trở nên khó hiểu. Nhưng nếu hiểu “đọc canh” = “đọc kinh” thì từ thành ngữ đến câu ca dao lập tức sáng rõ về nghĩa.

Trong Từ điển Việt - Bồ - La, Alexandre de Rhodes đã ghi nhận rõ ràng: “đăọc canh đăọc kệ: đọc kinh, đọc tụng kinh kính tượng thần”.

“Việt Nam tự điển” (Hội Khai trí Tiến đức) cũng giảng: “Canh: do tiếng “kinh” đọc trạnh ra <> Thầy dốt đọc canh khôn. Văn-liệu: ở yên không lành, đọc canh phải tội (T-ng)”. Theo đây, sự ghi nhận trực tiếp rằng “canh” là tiếng “kinh” đọc trạnh ra cho thấy đây không còn là giả thuyết suy đoán, mà là một cách giải thích đã được các nhà từ điển học trước đây thừa nhận.

Từ những dẫn liệu trên, có thể thấy rằng cách giải thích “canh kệ” = 賡偈 của Lê Văn Hòe chưa có đủ căn cứ về mặt từ nguyên học. Trong khẩu ngữ và văn học dân gian, “đọc canh”, “canh kệ” chủ yếu là biến âm của “đọc kinh”, “kinh kệ”, tức chỉ việc tụng niệm kinh Phật. Sự biến đổi ngữ âm của “canh” và “kinh” là một hiện tượng đã được ghi nhận từ rất sớm. Vì vậy, nếu xét về từ nguyên và ngữ nghĩa lịch sử, phải hiểu “canh kệ” là “kinh kệ” 經偈 mới đúng.

Mẫn Nông (CTV)

Bình luận

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Tin cùng chuyên mục

Trung thu đầm ấm bên trẻ em nghèo

Trung thu đầm ấm bên trẻ em nghèo

Văn hóa - Giải trí
(Baothanhhoa.vn) - Trung thu – mùa của ánh trăng tròn, của những chiếc đèn lung linh và tiếng cười trẻ thơ. Vậy nhưng, ở đâu đó vẫn còn những em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn mơ ước được đón một đêm trung thu trọn vẹn bên mâm cỗ trông trăng, chiếc đèn ông sao hay một món...
Giữ gìn bản sắc, xây dựng nếp sống văn minh

Giữ gìn bản sắc, xây dựng nếp sống văn minh

Văn hóa - Giải trí
(Baothanhhoa.vn) - Về thôn Đồng Ngấn, xã Thượng Ninh những ngày này dễ dàng nhận thấy sự khởi sắc của vùng quê nơi đây với đường làng, ngõ xóm sáng – xanh – sạch – đẹp. Tại các điểm nhà văn hóa thôn, phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao diễn ra sôi nổi. Ở...
[Podcast Tản văn] Khói bếp gọi về miền ký ức

[Podcast Tản văn] Khói bếp gọi về miền ký ức

Văn hóa - Giải trí
(Baothanhhoa.vn) - Có những ký ức tưởng đã ngủ yên theo năm tháng, nhưng chỉ một làn khói bếp cũng đủ đánh thức. Từ những ngày mưa thu, tác giả Lê Thị Xuân đã trở về với căn bếp nhỏ của mẹ, nơi có ngọn lửa hồng, củ khoai, bắp ngô, con cua, con cáy và tiếng cười của...
Chứng nhận tín nhiệm mạng
Việt Long Phần mềm tòa soạn
hội tụ thông minh