Dòng họ hiển đạt trên đất Hội Triều xưa
Trên đất làng Hội Triều, huyện Hoằng Hóa cũ, nay thuộc xã Hoằng Châu, họ Lương được biết đến là một dòng họ vinh hiển. Nếu Bảng nhãn Lương Đắc Bằng được hậu thế tôn kính bởi sự mẫu mực, thì con trai Lương Hữu Khánh và cháu nội Lương Khiêm Hanh đều là những người hiển đạt, được sử sách lưu danh.

Nhà bia ghi công trạng tiền nhân được tôn tạo tại Di tích quốc gia mộ và đền thờ Lương Đắc Bằng, Lương Hữu Khánh. Ảnh: Khánh Lộc
Được bồi đắp bởi sông Mã, sông Cung và cửa Lạch Trào, Hội Triều mang đặc trưng của vùng đất châu thổ. Từ xa xưa, nơi đây được ngợi ca là đất tốt lành, chốn tìm về tụ cư của nhiều dòng họ. Và họ Lương là một trong những dòng họ đến đất Hội Triều khá sớm.
Sinh ra, lớn lên trong gia đình trọng chữ nghĩa, thiên tư thông minh, chăm chỉ đèn sách, lại được theo học với Trạng nguyên Lương Thế Vinh, nhờ đó mà Lương Ngạn Ích - tức Lương Đắc Bằng mỗi ngày thêm thông tuệ. Khoa thi đình năm Kỷ Mùi 1499 ông đỗ bảng nhãn.
Là vị quan thanh liêm, chính trực, Lương Đắc Bằng đã dâng lên vua 14 kế sách trị bình hòng cứu vãn cơ nghiệp nhà Lê, tuy nhiên kế sách của ông không được thi hành. Trước tình cảnh ấy, ông đã cáo quan về quê dạy học. Nghe tiếng thầy Lương Đắc Bằng mở lớp, học trò khắp nơi tìm về theo học, nhiều người đỗ đạt.
Không chỉ trắc trở đường quan nghiệp, cuộc đời Bảng nhãn Lương Đắc Bằng cũng nhiều vất vả. Theo tài liệu lưu giữ tại dòng họ, ông hiếm muộn con cái. Sau nhiều mong ngóng, khi người vợ đang mang thai thì ông đột ngột ốm nặng và qua đời. Tương truyền, trước khi mất, ông chỉ kịp dặn vợ sinh con ra thì đặt tên là Hữu Khánh.
Từ nhỏ Lương Hữu Khánh đã xuất chúng hơn người. Khi ông lớn lên, người mẹ nhớ lời chồng dặn nên đã đưa con ra phía Bắc, tìm đến nhà Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (vốn là học trò của Lương Đắc Bằng) nhờ dạy dỗ. Dưới sự dìu dắt của Trạng Trình, việc học của Lương Hữu Khánh mỗi ngày thêm sáng láng, học đâu hiểu đó. Ông từng tham gia khoa thi hội do triều Mạc tổ chức song bất bình trước sự sắp xếp thứ bậc thiếu công bằng, nên đã bỏ thi đình. Và chính trong những ngày ở đất Thăng Long, nghiền ngẫm thế sự, cuối cùng ông quyết định trở về Thanh Hóa để “phò Lê diệt Mạc”.
Về đất Yên Trường - nơi đứng chân dấy nghiệp trung hưng của nhà Lê, Lương Hữu Khánh được vua Lê - chúa Trịnh tin dùng. Với tài năng xuất chúng, ông được phong giữ chức Thị lang, Tham tán cơ mưu, cầm quân đánh giặc. Năm 1557, tướng nhà Mạc là Mạc Kính Điển đem binh thuyền vào đánh Thanh Hóa, tướng quân Lương Hữu Khánh khi ấy giả người làm nghề chài lưới trên sông, chờ khi quân Mạc sơ hở thì tấn công khiến chúng hoảng hốt, tiếp sau đó phục binh nhà Lê xuất hiện tấn công ồ ạt, trận này quân Lê - Trịnh thu về hơn 300 chiến thuyền. Năm 1570, quân Mạc dẫn 10 vạn quân và 700 chiến thuyền vào đất Yên Trường - Vạn Lại hòng bắt sống vua Lê và tiêu diệt căn cứ trung hưng của quân Lê - Trịnh. Tình thế nguy cấp, bấy giờ Lương Hữu Khánh và một số tướng đã họp bàn, thực hiện kế nghi binh, nhờ đó đẩy lui được quân Mạc. Đến năm 1578 quân Mạc lại tiến vào đánh chiếm các huyện ở Thanh Hóa. Đến cửa Lạch Trào ngay sát làng Hội Triều, Lương Hữu Khánh và tướng Trịnh Bách chỉ huy quân sĩ đón đánh tiêu diệt thủy quân nhà Mạc... Nhờ lập nhiều công trạng, Lương Hữu Khánh được vua Lê phong đến chức Thượng thư Bộ binh, tước Đạt Quận công.
Nối chí ông nội và cha, một trong số người con trai của Lương Hữu Khánh là Lương Khiêm Hanh cũng trở thành người xuất chúng. Tại khoa thi năm Kỷ Sửu 1589, khi đó 27 tuổi ông đã thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Lễ khoa cấp sự trung.
Ông Lê Ngọc Hạnh, Trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội UBND xã Hoằng Châu chia sẻ: "Cuộc đời Bảng nhãn Lương Đắc Bằng dẫu nhọc nhằn, lận đận, nhưng thứ ông để lại cho đời sau chính là phúc ấm. Nhờ phúc ấm ấy, dẫu là trong buổi tao loạn, con trai Lương Hữu Khánh và cháu nội Lương Khiêm Hanh vẫn tỏa sáng làm rạng danh cơ nghiệp tiên tổ, lưu danh sử sách, để lại niềm tự hào cho đất và người Hội Triều".
Khánh Lộc
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Những nhà khoa bảng xứ Thanh, NXB Thanh Hóa, 2011; Danh nhân văn hóa Hoằng Hóa, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009).





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu