Đóng góp của Nhân dân làng Cẩm Bào với Chiến khu Ngọc Trạo
Nhân kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Chiến khu Ngọc Trạo, điểm qua vài nét về làng Cẩm Bào và những đóng góp của làng cho chiến khu.

Cổng làng Cẩm Bào (cũ), nay là thôn Cẩm Xuân, xã Tây Đô.
Làng Cẩm Bào (cũ), nay thuộc thôn Cẩm Xuân, xã Tây Đô, tỉnh Thanh Hóa. Những năm 1940-1941, Cẩm Bào là một làng nhỏ chỉ có 35 hộ với hơn 200 nhân khẩu, nhưng Nhân dân rất giàu tinh thần cách mạng. Toàn dân đều tham gia Hội Phản đế, có đội tự vệ canh gác, chiến đấu bảo vệ làng xóm. Cẩm Bào là nơi nuôi dưỡng cán bộ hoạt động cách mạng, tiếp tế cho chiến khu Ngọc Trạo. Sau ngày 19/10/1941, Cẩm Bào đã che chở cho đội du kích từ Ngọc Trạo rút về. Đồng chí Đặng Văn Hỷ, nguyên Chỉ huy phó Chiến khu Ngọc Trạo đã nói: “Chúng tôi về Cẩm Bào năm 1940-1941, lúc đó như chính quyền đã về tay cách mạng”. |
Theo lịch sử của địa phương, nằm ở phía Bắc Thành nhà Hồ, làng Cẩm Bào được hình thành vào thời Lê Trung hưng. Người đến lập trại đầu tiên là ông Phạm Quý Thư, con trai thứ ba của ông Phạm Đốc. Phạm Đốc là một danh tướng của Trịnh Kiểm.
Kể từ đó, làng Cẩm Bào đón nhiều gia đình, dòng họ về đây sinh sống, lập nghiệp, lập thành sách Cẩm Bào, thuộc tổng Cổ Biện, huyện Quảng Tế, sau là thôn Cẩm Bào, tổng Cổ Tế, huyện Thạch Thành.
Trải qua bao thăng trầm, biến động của lịch sử, phân chia địa giới hành chính, đến năm 1953, làng Cẩm Bào hợp về xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc.
Làng Cẩm Bào là nơi lắng đọng nhiều giá trị văn hóa truyền thống, trong đó, nổi bật nhất là đình làng. Đình làng Cẩm Bào có kiến trúc đẹp. Bên trong đình vẫn còn lưu giữ được hoành phi, câu đối gắn với lịch sử hình thành làng. Năm 1993, đình Cẩm Bào được tỉnh Thanh Hóa công nhận Di tích lịch sử Cách mạng.
Tự thưở lập làng, các thế hệ người dân nơi đây luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu nước, hăng hái tham gia bảo vệ đất nước giải phóng dân tộc. Hưởng ứng phong trào Văn Thân chống Pháp theo hịch Cần Vương, Cẩm Bào có ông Phạm Phúc Nguyên (Đội Bạch) đã lập đội quân Sơn Phòng chống lại quân Pháp xâm lược. Những trận đánh ở cửa Hà, Eo Lê như xuất quỷ nhập thần, khiến cho quân Pháp hao quân tổn khí. Ông còn cho quân mai phục chém chết cường hào ác bá trong vùng là Quản Vệ, chia lúa cho dân nghèo.
Trong phong trào Đông Du, làng đã quyên góp ủng hộ cho những người yêu nước xuất dương. Làng Cẩm Bào trở thành một trong những hạt nhân cách mạng ở Thanh Hóa trong thời kì Mặt trận Bình dân và Mặt trận Phản đế Cứu Quốc. Ngày 16/4/1934, chi bộ Đảng ghép Vĩnh Lộc, Thạch Thành được thành lập gồm 5 đảng viên. Cẩm Bào có ông Phạm Nhân Nhượng tham gia thành lập chi bộ Đảng.
Trong phong trào vận động dân chủ, làng Cẩm Bào hăng hái tham gia các hội Tương tế ái hữu, các đoàn thể nông dân, thanh niên dân chủ.
Trong phong trào phản đế cứu quốc, làng Cẩm Bào đã chuyển các đoàn thể dân chủ thành các Hội phản đế cứu quốc; đặc biệt đã lập được đội tự vệ từ năm 1940, ban đầu gồm 14 đội viên, sau tăng lên gần 60 người, do ông Vũ Đình Chiên làm đội trưởng. Đội tự vệ có phương án chiến đấu, khi tình huống xảy ra sẵn sàng làm hậu thuẫn cho đấu tranh chính trị của Nhân dân.
Tháng 6/1941, Tỉnh ủy Thanh Hóa họp mở rộng, xúc tiến việc thành lập khu căn cứ địa Tây Nam và khu căn cứ địa Đông Bắc. Khu căn cứ địa Đông Bắc gồm các huyện Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Hà Trung, Nga Sơn. Các đồng chí Đặng Châu Tuệ, Đặng Văn Hỷ, Trần Tiến Quân phụ trách xây dựng khu căn cứ Đông Bắc. Sau hội nghị, đồng chí Đặng Văn Hỷ về làng Cẩm Bào họp hội nghị ở nhà ông Phạm Văn Chù, thành lập Ban cán sự phản đế vùng Đông Bắc. Ban cán sự cử đồng chí Đặng Văn Hỷ làm trưởng ban; đồng thời xúc tiến thành lập Huyện ủy phản đế cứu quốc ở trong vùng.
Thực hiện quyết định của Tỉnh ủy Thanh Hóa về xây dựng khu căn cứ du kích trong vùng, Căn cứ địa Đông Bắc phải có địa hình rừng núi, tiện giao thông liên lạc với toàn tỉnh, với Xứ ủy Bắc Kỳ. Từ làng Cẩm Bào, các đồng chí Đặng Văn Hỷ, Trần Tiến Quân cùng Huyện ủy phản đế huyện Thạch Thành đã đi khảo sát ở các nơi, cuối cùng thống nhất chọn làng Ngọc Trạo, tổng Trạc Nhật, huyện Thạch Thành lập chiến khu du kích do đồng chí Đặng Châu Tuệ, Phó Bí thư Tỉnh ủy làm chỉ huy trưởng, Đặng Văn Hỷ, Trần Tiến Quân làm chỉ huy phó.
Trong 21 đội viên đầu tiên của Chiến khu Ngọc Trạo, ngoài Phạm Văn Hinh, làng Cẩm Bào được Huyện ủy phản đế Thạch Thành chọn và gửi lên chiến khu 5 đội viên đó là: Phạm Văn Giản, Phạm Văn Cận, Trần Văn Diệu, Phạm Văn Soạn, Phạm Văn Ơn.

Đình làng Cẩm Bào là nơi trú ẩn của một số du kích Chiến khu Ngọc Trạo năm 1941 khi bị giặc Pháp truy đuổi.
Đình làng Cẩm Bào trở thành nơi hội họp tập trung, nơi tiếp nhận đội viên du kích và hàng hóa chuyển lên chiến khu. Nhân dân làng Cẩm Bào đã làm tốt việc vận chuyển tiếp tế cho chiến khu Ngọc Trạo.
Ngày 19/9/1941, đội du kích chiến khu Ngọc Trạo được thành lập, với lời thề quyết tử đánh đế quốc và phong kiến giành độc lập cho dân tộc. Sau gần 1 tháng luyện tập, đội du kích chiến khu Ngọc Trạo phải đương đầu với cuộc chiến không cân sức, kẻ thù bao vây từ nhiều phía hòng tiêu diệt đội du kích. Bằng những vũ khí thô sơ như súng kíp, mã tấu, đồng chí Phạm Văn Hinh và các chiến sĩ cảm tử đã xông ra đánh giáp lá cà với địch, chặt tay địch cướp vũ khí, quân địch khiếp sợ phải rút lui. Ba đội viên du kích đã anh dũng hy sinh, trong đó có đồng chí Phạm Văn Hinh.
Gặp tình hình mưa lũ kéo dài, lại bị giặc bao vây, việc tiếp tế cho đội quân hàng trăm người gặp khó khăn. Bộ Chỉ huy đội du kích quyết định bí mật chuyển địa điểm, từ Ngọc Trạo rút về tập kết quanh khu vực làng Cẩm Bào như đồi Dọc Chó, Gầm Si, bái Đa Đôi. Tự vệ và Nhân dân Cẩm Bào không quản mưa lũ, đã cất giấu vũ khí, tài liệu của chiến khu, canh gác bảo vệ, tiếp đồ ăn, quần áo thuốc men cho các chiến sĩ du kích.
Trước tình thế kẻ địch mạnh và hung hãn, đội du kích bị tổn thất. Thực hiện Chỉ thị của Tỉnh ủy, đồng chí Đặng Văn Hỷ đã tập hợp toàn thể đội du kích vào nghè Cẩm Bào để công bố quyết định của cấp trên về việc tạm giải tán đội du kích chiến khu về các địa phương hoạt động chờ thời cơ.
Nhân dân Cẩm Bào đã chuẩn bị lương thực, thực phẩm, quyên góp được 50 đồng bạc Đông Dương cho các chiến sĩ đi đường. Bà Trần Thị Thừa, mẹ kế của đồng chí Phạm Văn Giản đã liên hệ với làng Phù Lưu mượn thuyền đưa du kích qua sông Mã. Khi kẻ địch “đánh hơi” thấy, chúng mang quân lính đến bao vây làng Cẩm Bào thì đội du kích đã đi xa. Chúng điên cuồng lục soát làng Cẩm Bào nhiều lần. Chúng dọa đốt hết cả làng. Cuối cùng, giặc bắt đi 14 người của thôn Cẩm Bào, trong đó có các chiến sĩ du kích, tự vệ, cả phó tổng và lý trưởng.
Danh xưng “Cẩm Bào làng cộng sản” là đế quốc và quan lại đã dùng để nói về làng. Chúng thông tri đi các nơi trong vùng, không ai được chứa chấp người của làng Cẩm Bào và Ngọc Trạo. Nhờ sự kiên trung của những người bị bắt mà những người khác không bị lộ. Làng Cẩm Bào tiếp tục là cơ sở của cách mạng.
Giặc giam những người bị bắt ở huyện đường Vĩnh Lộc. Sau đó, 11 chiến sĩ du kích, tự vệ bị kết án đưa đi giam ở nhà lao Thanh Hóa đến tháng 3/1945 mới được ra tù. Những đồng chí này, khi trở về là những hạt nhân cốt cán của huyện Thạch Thành.
Với những đóng góp cho cách mạng, đặc biệt là Chiến khu Ngọc Trạo, làng Cẩm Bào và 10 gia đình trong làng được nhà nước tặng bằng có công với nước. Đình Cẩm Bào được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh. Có 12 người được hưởng chế độ lão thành cách mạng.
Sinh thời, vào lễ kỷ niệm, ngày thành lập Chiến khu du kích Ngọc Trạo, nhiều đồng chí lãnh đạo chiến khu xưa như Đặng Châu Tuệ, Trần Tiến Quân, Đặng Văn Hỷ và các đội viên du kích khác, đã trở về thăm làng Cẩm Bào để ôn cố tri ân.
Đồng chí Đặng Văn Hỷ từng tặng làng câu đối: “Nhớ thuở nọ bát cơm phiếu mẫu/ Mừng hôm nay tươi sắc Cẩm Bào”.
Đồng chí Đặng Châu Tuệ tặng làng bài thơ: “Đẹp ơi là đẹp Cẩm Bào/ Thiết tha cách mạng, dạt dào tình thương/ Chiến khu Ngọc Trạo lỡ đường/ Cả làng che chở, cả làng giấu Tây/ Nghẹn ngào trong lúc chia tay/ Sao vàng cờ đỏ hẹn ngày đoàn viên”.
Từ ngày 1/7/2026, thực hiện Nghị quyết của HĐND xã Tây Đô về việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị thôn nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới, làng Cẩm Bào được sáp nhập với làng Xuân Áng, đặt tên mới là thôn Cẩm Xuân. Nhân dân tin tưởng thôn mới sẽ phát huy tiềm năng, lợi thế của Cẩm Bào - Xuân Áng, tăng cường khối đại đoàn kết, góp sức xây dựng xã Tây Đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.
Nguyễn Huy Miên
* Bài viết có sử dụng tư liệu Lịch sử làng Cẩm Bào và Hồi ký của đồng chí Đặng Văn Hỷ.





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu