Vàng son lưu dấu...
Nhắc đến Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh gợi lên hình dung về một “kinh đô tưởng niệm”, biểu tượng tiêu biểu, nơi hội tụ những giá trị đặc sắc của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc thời Lê Sơ. Từ kiến trúc điện, miếu đến những bậc thềm đá chạm rồng uy nghi, các tấm bia đá cổ kích thước lớn đến hệ thống lăng tẩm, tượng đá... mang đậm tư duy thẩm mỹ, văn hóa, tín ngưỡng của một triều đại hưng thịnh trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Hàng tượng quan hầu và giống đá tại Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh.
Trong hệ thống di sản còn lại của thời Lê Sơ trên đất Thanh Hóa, Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh giữ vị trí đặc biệt không chỉ bởi ý nghĩa lịch sử mà còn bởi những giá trị nghệ thuật tiêu biểu được bảo tồn qua nhiều thế kỷ. Nơi đây là kết tinh của tư duy quy hoạch không gian, kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc độc đáo của một vương triều đang ở thời kỳ cực thịnh.
Quy mô công trình kiến trúc Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh được miêu tả chi tiết, tỉ mỉ trong sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú: “Điện Lam Kinh đằng sau gối vào núi, trước mặt trông ra sông, bốn bên non xanh nước biếc, rừng rậm um tùm. [...] Nền điện rất cao, hai bên mở rộng, dưới chân điện có làn nước phẳng, giống như trước điện nhà vua coi chầu. Ngoài cửa Nghi Môn có hai con chó ngao bằng đá, tục truyền là rất thiêng. Điện làm ba ngôi liền nhau, kiểu chữ Công, mẫu mực theo đúng kiểu các miếu ở kinh sư. Theo từng bậc mà lên, rồi từ đó trông xuống thì thấy núi khe hai bên tả, hữu, cái nọ, cái kia vòng quanh thật là một chỗ để xây dựng cơ nghiệp”.
Hòa quyện trong không gian kiến trúc thành, điện, Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh ghi đậm dấu ấn mỹ thuật thời Lê Sơ qua những công trình lăng mộ, bia đá gắn với cuộc đời và sự nghiệp của các vị vua và hoàng thái hậu triều Lê.
Trong không gian tĩnh lặng, linh thiêng, nhiều vị khách khi đến với Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh đều tìm đến khu lăng mộ vua Lê Thái Tổ để một lần được cúi đầu bái lạy tiền nhân. Khu lăng mộ được xây dựng trên một dải đất bằng phẳng ở chân núi Dầu. Bố cục và phong cách mai táng của Vĩnh Lăng đơn giản nhưng tôn nghiêm, tự nhiên mà trang nhã.
Trước lăng có hai hàng tượng quan hầu và các con giống tạc bằng đá. Tượng quan hầu được đặt ở vị trí gần lăng nhất, bên trái là quan văn, bên phải là quan võ. Kế tiếp hàng tượng quan hầu là tượng bốn đôi con giống đá đối nhau, giữa hai hàng tượng quan hầu, giống đá chầu vào là một lối đi rộng 20,35m, thường gọi là thần đạo.
Hệ thống tượng quan hầu và giống đá tại khu lăng mộ vua Lê Thái Tổ có thân hình nhỏ, tạo tác theo phong cách dân gian. Ngựa không thắng, không yên; tê giác không bành; hổ ngồi hiền từ, sư tử có chút cách điệu. “Tính dân gian đã ấn định một hình thức biểu hiện cho các tượng này: lấy sự đơn giản, mộc mạc làm cơ sở thẩm mỹ nghệ thuật. Sự đơn giản, mộc mạc ở đây hoàn toàn không thể là một sự ngẫu nhiên. Với một kỹ thuật thành thạo nhất định, nhà điêu khắc chỉ diễn tả đối tượng của mình qua những khối hình có tính cách phác gợi”.
Có thể thấy tính dân gian vẫn là nét đặc trưng, thống nhất trong phong cách, nghệ thuật điêu khắc đá thời Lê Sơ: “Ngoài việc kế thừa tinh hoa thời Lý - Trần, mỹ thuật thời Lê Sơ còn hưởng một di sản đặc biệt, đó là những nhân tố dân gian. Những nhân tố này giúp cho mỹ thuật thời Lê Sơ có được bản lĩnh đương đầu với ý thức hệ Nho giáo đương thời. Đây là một đặc điểm của nghệ thuật tạo hình dân tộc Việt Nam”.
Nếu ngôn ngữ của khối hình trong điêu khắc thời Lê Sơ trong sáng thì bút pháp hội họa lại lanh lẹ, vút bổng và mang tính hiện thực cao. Tiêu biểu cho phong cách hội họa ấy là những hình rồng uốn lượn cuộn khúc mềm mại, mào dài, trang trí thanh nhã ở bia Vĩnh Lăng. Đây là tấm bia được dựng năm 1433, chất liệu đá trầm tích nguyên khối, đặt trên lưng một con rùa cỡ lớn cùng chất liệu đá, được tạo tác tinh xảo. Rùa và bia có trọng lượng ước tính khoảng 18 tấn. Nội dung văn bia ngắn gọn, cô đọng, mô thuật đầy đủ về thân thế, sự nghiệp vua Lê Thái Tổ, tóm tắt về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đặc biệt nhấn mạnh lòng khoan dung độ lượng của nhà vua đối với quân thù khi chúng bại trận. Nội dung văn bia do quan Vinh Lộc Đại phu Nhập nội hành khiển, Tri tam quán sự thần Nguyễn Trãi phụng sắc soạn, người viết chữ trên bia là quan Hàn lâm viện đãi chế Vũ Văn Phi.
Với kích thước lớn, mỹ thuật điêu khắc, trang trí cầu kỳ, công phu, đường nét trau chuốt, bia Vĩnh Lăng được nhận định là một trong những tấm bia đẹp nhất Việt Nam về mỹ thuật và kỹ thuật; công trình điêu khắc đá nghệ thuật quý giá về nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa lớn lao trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam thời Lê Sơ còn đến ngày nay. Ngày 30/12/2013, bia Vĩnh Lăng được công nhận là Bảo vật Quốc gia.
Không chỉ có bia Vĩnh Lăng, Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh còn lưu giữ một hệ thống bia đá đặc sắc khác đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia, đó là: “Khôn Nguyên Chí Đức chi bi” (Bia Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao), “Đại Việt Lam Sơn Chiêu Lăng bi” (bia Chiêu Lăng); “Đại Việt Lam Sơn Dụ Lăng Bi” (bia Dụ Lăng); “Đại Việt Lam Sơn Kính Lăng bi” (bia lăng Vua Lê Túc Tông). Dù được tạo dựng ở những thời điểm khác nhau, các bia đá tại các khu lăng mộ ở Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh vẫn thống nhất trong một phong cách nghệ thuật đặc trưng. Đó là bố cục chặt chẽ, cân đối; các hoa văn trang trí được chạm khắc tinh xảo nhưng không cầu kỳ, phô trương, đường nét mềm mại, trang nhã mà vẫn toát lên vẻ trang trọng.
Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh không chỉ lưu giữ những giá trị lịch sử vô giá mà còn là nơi kết tinh những thành tựu nổi bật của nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc thời Lê Sơ, góp phần làm nên diện mạo đặc sắc của mỹ thuật Việt Nam trong thế kỷ XV.
Bài và ảnh: Thảo Linh
(Bài viết sử dụng tư liệu trong cuốn sách “Mỹ thuật thời Lê Sơ”, Viện Nghệ thuật, Bộ Văn hóa – Thông tin, 1978, NXB Văn hóa).





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu