Tháo gỡ khó khăn về giá và tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng
Từ đầu năm đến nay, thị trường vật liệu xây dựng (VLXD) trên địa bàn tỉnh liên tục có những biến động. Đáng chú ý là tình trạng thiếu nguồn cung đối với các loại vật liệu thô như cát, đá, đất san lấp.

Mỏ khai thác đá làm vật liệu xây dựng tại xã Như Thanh.
Tại một số thời điểm, nhu cầu tăng cao trong khi khả năng cung ứng không đáp ứng kịp đã kéo theo giá VLXD tăng, gây áp lực lớn cho các nhà thầu. Doanh nghiệp không chỉ phải tìm kiếm nguồn vật liệu thay thế mà còn phải tính toán lại chi phí vận chuyển, ảnh hưởng đến phương án thi công và tiến độ dự án. Trong khi đó, tỉnh đang đồng loạt triển khai nhiều dự án giao thông, đô thị, công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn. Nhu cầu cát, đá, đất san lấp vì thế tiếp tục tăng, tạo sức ép lên khả năng cung ứng của các mỏ. Theo báo cáo, nhu cầu đất san lấp trong năm 2026 của các công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là khoảng 23,533 triệu m3 nguyên khai; nhu cầu toàn tỉnh là 75,583 triệu m3 nguyên khai. Tuy nhiên, công suất các khu vực mỏ đất đang hoạt động mới đáp ứng khoảng 57,5% nhu cầu của các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, 18% nhu cầu đất san lấp trên toàn tỉnh; công suất các khu vực mỏ cát đang hoạt động mới đáp ứng khoảng 6,15% nhu cầu của các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, 3,6% nhu cầu cát xây dựng trên toàn tỉnh; 182 mỏ đá đang hoạt động với công suất khoảng trên 8 triệu m3/năm tương đương 11,8 triệu m3 đá nguyên khai...
Ông Nguyễn Thanh Quân, Giám đốc Tổng Công ty CP Đầu tư xây dựng Minh Tuấn, cho rằng: “Để khắc phục tình trạng khan hiếm và giá VLXD tăng cao, các chủ mỏ khi cung cấp báo giá cho cơ quan chức năng cần bổ sung thông tin về khả năng cung cấp thực tế còn lại trong năm. Các chủ đầu tư và đơn vị tư vấn cũng cần làm việc trực tiếp với các mỏ ngay từ khâu lập dự toán để bảo đảm VLXD được lựa chọn trên cơ sở khả năng cung ứng thực tế".
Bên cạnh vấn đề giá và nguồn cung, doanh nghiệp cũng phản ánh những khó khăn trong quá trình khai thác vật liệu phục vụ các dự án đầu tư công. Ông Nguyễn Duy Nở, Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Tuấn, cho rằng, việc áp dụng Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ “Về việc ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024” đã phần nào tháo gỡ “nút thắt” về nguồn vật liệu. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, nhà thầu vẫn chưa rõ cơ quan chủ trì và phương pháp xác định, thẩm định đơn giá cũng như các chi phí thực tế được tính vào giá vật liệu để thanh, quyết toán. Một khó khăn khác là thời gian cấp phép khai thác thường chỉ từ 6 đến 12 tháng, trong khi thủ tục giải phóng mặt bằng theo đúng quy trình có thể kéo dài. Nếu doanh nghiệp tự thỏa thuận với người dân, chi phí lại bị đẩy lên rất cao. Những vướng mắc này khiến doanh nghiệp khó chủ động về thời gian và chi phí khai thác, trong khi nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án ngày càng lớn.
Những phản ánh từ phía doanh nghiệp cho thấy, bên cạnh bài toán bảo đảm nguồn cung, việc xác định giá VLXD sát với chi phí thực tế cũng đang là một trong những “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ. Khi giá công bố chưa phản ánh đầy đủ diễn biến thị trường, doanh nghiệp không chỉ gặp khó trong tính toán chi phí khai thác mà còn bị động trong quá trình lập dự toán, thanh quyết toán các dự án. Trao đổi về vấn đề này, ông Hoàng Văn Đồng, Giám đốc Sở Xây dựng Thanh Hóa, cho biết: “Việc công bố giá được thực hiện trên cơ sở thu thập báo giá của đơn vị cung cấp, hóa đơn bán hàng của doanh nghiệp khai thác mỏ và hợp đồng giữa doanh nghiệp với khách hàng. Tuy nhiên, thông tin công bố đôi khi chưa phản ánh đầy đủ diễn biến thị trường, do doanh nghiệp cung cấp thông tin chưa đầy đủ, chưa chính xác và công tác thu thập, kiểm soát dữ liệu tại cơ sở còn hạn chế. Để khắc phục tình trạng này, Sở Xây dựng sẽ tăng cường công khai thông tin về giá và trữ lượng các mỏ trên hệ thống điều hành và trang thông tin điện tử để doanh nghiệp, nhà đầu tư dễ tiếp cận. Cùng với đó, sở sẽ xử lý nghiêm những trường hợp cung cấp thông tin không chính xác”.
Thanh Hóa đang đứng trước cơ hội lớn để tăng tốc đầu tư hạ tầng, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường liên kết vùng. Tuy nhiên, để các dự án bảo đảm tiến độ, nguồn vật liệu cần được chuẩn bị tương ứng ngay từ sớm. Trong bối cảnh nhu cầu tiếp tục tăng, việc đánh giá đúng trữ lượng, công suất và khả năng cung ứng của các mỏ; cập nhật giá sát thị trường và công khai đầy đủ dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong đầu tư, thi công. Khi những “điểm nghẽn” về nguồn cung và giá vật liệu được tháo gỡ, các dự án hạ tầng sẽ có thêm điều kiện đẩy nhanh tiến độ, hạn chế phát sinh chi phí, qua đó góp phần đưa đầu tư hạ tầng trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bài và ảnh: Minh Hà





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu