“Thanh thiên” và “thiên thanh”
“Thanh thiên” 青天 và “thiên thanh” 天青 là hai từ Việt gốc Hán hay bị lẫn lộn với nhau, hoặc bị coi là đồng nghĩa. Sự nhầm lẫn này không chỉ xảy ra với người bình thường mà còn ngay với cả người biên soạn từ điển.

Từ điển từ và ngữ Việt Nam (GS. Nguyễn Lân), mục “thanh thiên” giảng rõ ràng như sau: “thanh thiên (thanh: sắc xanh; thiên: trời) Nói màu xanh da trời: Áo màu thanh thiên”. Đến mục “thiên thanh” sách này lại giảng: “thiên thanh • dt. (H. thiên: trời; thanh: xanh) Màu xanh da trời <> Men bát màu thiên thanh”.
Hai mục từ này soạn giả giải nghĩa yếu tố Hán Việt đúng, nhưng giải nghĩa từ “thanh thiên” lại sai hoàn toàn, vì đã lẫn lộn thanh thiên 青天 [nghĩa là trời xanh], với thiên thanh 天青 [xanh da trời]. Mặt khác, soạn giả còn nhầm lẫn ở một điểm khác, đó là coi “thanh thiên” và “thiên thanh” là hai từ đồng nghĩa (cùng có nghĩa là “màu xanh da trời”), trong khi hai từ này khác nhau.
Hán ngữ đại từ điển giảng “thanh thiên” 青天 là: 1. Chỉ thiên. Kì sắc lam, cố xưng (指天. 其色藍, 故稱) – Chỉ trời xanh. Do bầu trời có màu xanh nên gọi là thanh thiên; 2. Tình thiên. Dụ quang minh mĩ hảo đích thế giới (晴天. 喻光明美好的世界) – Trời quang. Ngày nắng đẹp; từ đó ví với thế giới sáng sủa, tốt đẹp, công bằng; 3. Dụ chỉ thanh quan (喻指清官) – Ví với vị quan thanh liêm, công minh, xử án công bằng (thanh quan).
Hán điển cũng cho “thanh thiên” 青天 3 nghĩa và giảng như sau: 1. Tình lãng vô vân đích thiên không (晴朗無雲的天空) – Bầu trời trong sáng không một gợn mây; 2. Hình dung hiền minh liêm khiết (形容賢明廉潔) – Hình dung người hiền minh, liêm khiết; 3. Tỉ dụ thanh quan, như xưng Bao Chửng vi Bao Thanh Thiên 比喻清官, 如稱包拯為包青天 – Ví quan thanh liêm, sáng suốt, như gọi Bao Chửng là Bao Thanh Thiên.
Từ thanh thiên 青天 [trời xanh, trời trong] được dùng trong ngữ nghĩa như: Thanh thiên bạch nhật (青天白日) – Giữa ban ngày và giữa trời xanh (trong), ý nói chuyện gì, điều gì đó rất rõ ràng, minh bạch, không có gì bị che lấp; hay Phi vân vụ nhi đổ thanh thiên (披雲霧而睹青天) – Rẽ mây mù mà thấy trời xanh.
Còn thiên thanh, Hán ngữ đại từ điển giảng là: “thâm hắc nhi vi hồng đích nhan sắc” (深黑而微紅的顏色), tức một màu đen sẫm hơi ánh đỏ. Tuy nhiên, trong cách dùng thông thường của tiếng Việt, thiên thanh được hiểu là màu xanh da trời.
Hán điển giảng cụ thể hơn: “thiên thanh: 1. Thâm hắc nhi vi hồng đích nhan sắc, vi hồng, thanh nhị sắc điều hợp nhi thành; 2. Thiên sắc thanh lãng (天青: 1. 深黑而微紅的顏色,為紅, 青二色調合而成; 2. 天色青朗), nghĩa là: “Thiên thanh: màu sắc đen thẫm mà phớt hồng, do hai màu xanh và đỏ phối hợp với nhau mà thành; 2. Sắc trời trong sáng”.
Trong tiếng Việt thanh thiên và thiên thanh có nghĩa giống như trong tiếng Hán.
Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức) giảng nghĩa rõ ràng như sau: “thiên thanh tt. Xanh da trời: Cái áo màu thiên-thanh”; “thanh thiên tt. Trời xanh, nền trời xanh: Giữa thanh-thiên bạch-nhật, (Giữa ban ngày, trước mắt thiên-hạ)”.
Trong thực tế, người Việt rất dễ lẫn lộn “thanh thiên” với “thiên thanh” (giống như trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam, GS. Nguyễn Lân cũng đã lẫn lộn hai từ “cao đăng” với “đăng cao”). Đây đều là những trường hợp tưởng như chỉ đảo vị trí hai yếu tố Hán Việt, nhưng ý nghĩa đã thay đổi hoàn toàn.
Hoàng Trinh Sơn (CTV)





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu