Năm Ngọ, tản mạn Mã giang
Khi những cơn gió xuân chạm vào mặt nước, từng đợt sóng gợn nhẹ ôm lấy sắc nắng khiến cho dòng sông Mã lấp lánh như một dải lụa dát bạc trong lòng xứ Thanh. Con sông lớn nhất xứ Thanh ấy vượt qua bao thác ghềnh để bồi đắp phù sa cho đồng bằng sông Mã rộng lớn, nuôi dưỡng bao thế hệ người dân, tưới tắm cho mạch nguồn lịch sử - văn hóa nơi đây chảy mãi...

Một vùng Hàm Rồng - sông Mã ghi dấu bao chiến công oai hùng của quân và dân Thanh Hóa trong kháng chiến chống Mỹ.
Kiến tạo diện mạo xứ Thanh...
Sông Mã, một trong những dòng sông hiếm hoi khởi nguồn từ trong lòng đất Việt, tung tẩy suốt dọc dài biên giới qua nước bạn Lào rồi lại quay về với quê hương, bản quán. Khi viết “Hùng thiêng Hàm Rồng – sông Mã”, cố nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ đã miêu tả chi tiết về hải trình của dòng sông này: “Bắt đầu cuộc hành trình muôn dặm, sông Mã từ Nậm Mã hợp với Nậm Hua, ở độ cao trên 2.000m thuộc Tuần Giáo, Lai Châu về đến Sơn La được tiếp sức thêm bởi các nhánh Nậm Ty, Nậm Công, Nậm Le, Nậm Hết, độ dốc đáy sông có chỗ lớn trên 90%. Sông Mã chứng tỏ mình như con ngựa thần tung bốn vó dũng mãnh phi thường, bay qua những cao nguyên dày đặc, uốn lượn tấm thân mềm mại len lỏi khắp những núi non cực kỳ hiểm trở, ngọn cao vút chọc trời: Co Pia, Phu Ta Ma, Pha Tung (hơn 1.700m), Phu Long, Phu Sam Sao, Phu Hoạt (xấp xỉ 2.000m)... Nó phải vòng vèo trên đất Lào tới 102km, tiếp theo, trải vô vàn thác ghềnh đầy gian nan mới về đến điểm hẹn, nơi núi Rồng cuộn khúc chờ mong. Trên con đường dài hơn 500km qua đất Việt để ra tới biển Đông, nó đạp bằng mọi trở lực, khuất phục hết thảy... Chỉ một mình nó với tiếng thét gầm rung chuyển trời đất, nó chiến thắng tất cả và cuốn theo mọi dòng sông lớn nhỏ”. Trên dòng hải trình ấy, đến với xứ Thanh, sông Mã tựa hồ như kiến trúc sư vĩ đại.
Dải miền Tây xứ Thanh với núi non điệp trùng, vừa mang vẻ đẹp hùng vĩ, phóng khoáng vừa trữ tình, nên thơ theo “khúc độc hành” của sông Mã mà vang danh: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi/ Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi/ Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/ Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.
Và rồi, con sông lớn nhất của xứ Thanh, sông Mã ấy, không đi vào châu thổ qua một thung lũng rộng và thẳng đuột với hướng chung của cấu trúc địa hình, nó tự cho phép mình đỏng đảnh cắt đi, xẻ lại nhiều lần các nhánh núi đá vôi thành những hẻm vực rất đẹp, trong các khúc quanh giữa Hồi Xuân, La Hán và thượng lưu Phong Ý.
Vùng Bắc Thanh Hóa phô ra một mê cung những bồn địa kéo dài. Tùy theo phương hướng của nếp uốn mà các con sông nối lại với nhau bằng các hẻm giữa các thung lũng sẽ qua một nhánh núi porphyrit hay đá vôi, các đụng độ còn biểu lộ mãnh liệt như thế trên một khoảng không gian chật hẹp qua nhiều địa tầng quá đa dạng chồng chất lên nhau, các lòng chảo riêng lẻ giữa các vùng đồi rừng rậm bao phủ đã từ lâu đời níu giữ chân con người ở đấy.
Sông Mã tiếp tục xuôi dòng. Núi non tự bao giờ đã âm thầm nhường chỗ cho châu thổ. Nấp sau sự che chở của những dải ven bờ,..., châu thổ được hình thành do các trầm tích sông chầm chậm tiếp sức cho. Tự khi là “con ngựa bất kham” nơi thượng nguồn, sông Mã vẽ những đường cong mềm mại đi qua xóm làng, bờ bãi xuôi về phố.
Lấp lánh phù sa văn hóa
Được ví như món quà mà bà mẹ thiên nhiên ưu ái ban tặng, những địa danh mà sông Mã đi qua đều là những nơi mang đậm nét văn hóa đặc trưng, lưu lại nhiều vết tích của vùng đất cổ nơi con người tìm đến sinh sống, quần tụ từ buổi sơ khai. Đặc biệt, dọc đôi bờ lưu vực sông Mã từng chứng kiến sự hình thành, phát triển và tỏa rạng của nhiều nền văn hóa tiêu biểu trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại.

Không gian thờ tự nằm bên bờ sông Mã.
Bên bờ hữu ngạn sông Chu, nơi hợp lưu giữa sông Chu và sông Mã, núi Đọ lừng lững đứng đó, minh chứng sinh động cho sự tồn tại của nền văn hóa sơ kỳ thời đại đá cũ trên đất xứ Thanh. Tại đây, vào thập kỷ 60 (thế kỷ XX), các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các di vật bằng đá như: rìu tay, công cụ chặt thô, hạch đá, mảnh tước... mang dấu ấn kỹ thuật ghè đẽo thô sơ, khẳng định người nguyên thủy đã từng sinh sống ở núi Đọ, cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm.
Ánh sáng “bình minh núi Đọ” bắt đầu soi chiếu những trang sử đầu tiên kể từ khi “đoàn người vượn ở đây giã biệt đời sống thú vật để đứng thẳng lên làm người”. Dọc sông Mã người ta còn tìm thấy dấu vết tồn tại người nguyên thủy ở núi Nuông, núi Quan Yên, núi Nổ...
Văn hóa Đông Sơn được phát hiện tại ngôi làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng) từ những hiện vật bằng đồng do một người dân tìm thấy bên sông Mã. Các phát hiện khảo cổ sau đó về di chỉ cư trú và mộ táng dọc sông Mã, sông Chu đã minh chứng cho sự hưng thịnh của nền văn hóa, văn minh này. Đây không chỉ là niềm tự hào của xứ Thanh, mà còn là minh chứng đanh thép cho tầm vóc của văn hóa Đông Sơn trong dòng chảy lịch sử Việt Nam và khu vực.
Trong đó, hiện vật tiêu biểu, ghi dấu ấn sâu đậm cho nền văn hóa này là trống đồng. Với những đường nét, hoa văn chạm khắc tinh tế, tỉ mỉ, trống đồng Đông Sơn mô tả khá phong phú các sinh hoạt văn hóa của cư dân lúc bấy giờ. Đồng thời cho thấy, cư dân thuộc nền văn hóa Đông Sơn đã tinh tế, nhạy cảm như thế nào trong cách cảm nhận cuộc sống và tài hoa trong cách biểu đạt cảm xúc, thẩm mỹ của mình.
Mỗi lần đặt chân đến làng cổ Đông Sơn, sau những xuýt xoa, tán thưởng trước cảnh sắc nơi đây, đắm mình trong không gian lịch sử - văn hóa đặc sắc, người ta vẫn thường tự hỏi: Việc phát hiện ra nền văn hóa Đông Sơn trên đất xứ Thanh, ngay bên bờ con sông Mã – con sông có ảnh hưởng sâu sắc đến diện mạo, đời sống vật chất, tinh thần của xứ Thanh phải chăng là định mệnh, lựa chọn của lịch sử như cái cách lịch sử đã bao lần giao cho mảnh đất này những sứ mệnh, trọng trách lớn lao. Hoặc nói theo cách khác, chính xứ Thanh đã khảm vào lịch sử dân tộc những dấu ấn vàng son...
Sống giữa hồn người, từng hạt phù sa sông Mã nay đã thành “điệu hò ngọt cây lúa trĩu bông/ Thành chim hạc trống đồng ca dao tục ngữ/ Thành súng thành gươm thành cung thành nỏ/ Thành Mai An Tiêm, Độc Cước, ông Vồm/ Sau lũ cồn cào giọt nước lại trong hơn/ Lại ăm ắp bến bờ dạt dào phù sa trẻ” (Nguyễn Minh Khiêm).
Sông Mã ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử trọng đại, oai hùng suốt 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Bao bom đạn đã chìm sâu vào lòng sông, cùng với đó là bao máu đào nhuộm sắc, bao cuộc đời hy sinh, bao tuổi xuân nằm lại bên dòng sông ấy. Hàm Rồng - sông Mã đã trở thành huyền thoại, nơi ghi dấu bao chiến công oai hùng của một thời kiên cường, anh dũng chiến đấu giành độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân.
Sông Mã có vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống vật chất, văn hóa, tâm linh của xứ Thanh. Ở đó, sông Mã vừa đóng vai trò kiến tạo, vừa là chứng nhân lịch sử cho sự hình thành và phát triển vùng đất này. Mãi muôn đời, trong tâm khảm các thế hệ người dân xứ Thanh vẫn khắc ghi trong lòng hai tiếng sông Mã yêu thương...
Bài viết sử dụng tư liệu trong cuốn sách “Tỉnh Thanh Hoá” của Charles Robequain (2012, NXB Thanh Hoá)
Bài và ảnh: Thảo Linh





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu