(Baothanhhoa.vn) - “Thành hoàng của các làng Việt không phải vị thần bảo vệ thành và hào của làng mà là người (theo truyền thuyết) có công giúp dân, giúp nước trong các cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm, hoặc là người có công với nước, với dân, có công lập ra làng, truyền dạy một nghề nào đó cho dân làng, hoặc hiển linh phù độ cho làng, xã... Đến thời Lê Trung Hưng thì tục thờ Thành hoàng ở nước ta thực sự đầy đủ điển chế riêng và có tính chất thuần Việt rõ ràng...” (theo sách Thần tích - Thần sắc Thanh Hóa).

Tin liên quan

Đọc nhiều

Nét đẹp tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng

“Thành hoàng của các làng Việt không phải vị thần bảo vệ thành và hào của làng mà là người (theo truyền thuyết) có công giúp dân, giúp nước trong các cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm, hoặc là người có công với nước, với dân, có công lập ra làng, truyền dạy một nghề nào đó cho dân làng, hoặc hiển linh phù độ cho làng, xã... Đến thời Lê Trung Hưng thì tục thờ Thành hoàng ở nước ta thực sự đầy đủ điển chế riêng và có tính chất thuần Việt rõ ràng...” (theo sách Thần tích - Thần sắc Thanh Hóa).

Nét đẹp tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng

Đình Phú Điền là nơi Bà Triệu được suy tôn là Thành hoàng làng. Ảnh: P.V

Là một trong những ngôi đình gỗ bề thế ở xứ Thanh, đình Động Bồng, xã Hà Tiến (Hà Trung) từ khi khởi dựng (thời vua Gia Long) là nơi thờ Thành hoàng làng - vị đại quan văn võ toàn tài thời Lý - Thái úy Tô Hiến Thành. Người dân địa phương tin rằng, đây chính là mảnh đất đã sinh ra vị đại quan.

Theo truyền thuyết về thần tích ở đền Chính Từ, xã Hà Giang ngày nay (trước đây thuộc vùng đất Động Bồng) cha Tô Hiến Thành làm quan nhà Lý, được cử vào vùng đất Hà Trung ngày nay làm nhiệm vụ. Tại đây (Động Bồng) Tô Hiến Thành đã được sinh ra và lớn lên, để rồi sau này trở thành một nhân vật ghi danh lịch sử. Chính sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký toàn thư cũng dành cho tiền nhân không ít lời ngợi khen: “Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi, hết lòng trung thành, khéo xử trí khi có biến cố, tuy có bị gió lay sóng đạp mà vẫn đứng như cột đá giữa dòng khiến trên yên dưới thuận, không thẹn với phong độ của đại thần xưa. Lúc sắp chết còn vì nước, tiến cử người hiền không vì ơn riêng”.

Tuy nhiên, ngoài đình Động Bồng, ở xứ Thanh còn có hơn 70 nơi thờ tự (đình, đền) vị đại quan Tô Hiến Thành. Trong đó, tập trung nhiều ở các xã vùng ven biển (Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn...). Căn cứ theo các tài liệu lịch sử, các nhà nghiên cứu cho rằng, trong cuộc đời làm quan của Tô Hiến Thành, ông đã nhiều lần nhận nhiệm vụ đi tuần các nơi ven biển để giữ yên bờ cõi; năm 1167, ông còn vâng mệnh vua Lý mang thủy quân đi dẹp giặc Chiêm Thành... Cảm mến trước tài năng, đức độ, sự uy dũng và những đóng góp của vị đại quan cho đất nước, Nhân dân các vùng biển đã lập dựng đền thờ, suy tôn ông làm Thành hoàng (thần hoàng) làng với nhiều tên gọi khác nhau, như: Đức Thánh Cả; Sát Hải Đại Vương... gửi gắm niềm tin, ước vọng được chở che, phù trợ.

Dù lần đầu ghé thăm làng cổ Phú Điền, xã Triệu Lộc (Hậu Lộc), xúc cảm đầu tiên là sự hiền hòa của một làng quê thuần Việt. Cảm giác gần gũi hơn khi ghé thăm đình làng Phú Điền, nơi Nhân dân trong làng thờ và suy tôn Bà Triệu là Thành hoàng làng - vị thần che chở, phù trợ cho vùng đất Phú Điền tự bao đời qua.

Thắp nén hương thơm, dẫn chúng tôi tham quan một vòng di tích, bác Đặng Văn Cường, thủ từ di tích đình Phú Điền tự hào chia sẻ: “Bà Triệu không chỉ là vị nữ tướng anh hùng của dân tộc, với người dân Phú Điền suốt cả nghìn năm qua, bà chính là vị thần đã giúp đỡ, phù trợ cho sự phát triển, no đủ và bình yên”. Theo đó, người dân Phú Điền xưa nay vẫn tin rằng, sau khi tuẫn tiết trên đỉnh núi Tùng (xã Triệu Lộc), Bà Triệu vẫn luôn phù trợ cho đất nước, Nhân dân. Khi đất nước gặp nguy nan trước họa ngoại xâm, bà hiển ứng giúp đấng quân vương đánh tan kẻ thù. Khi làng quê thanh bình trở lại, vị vua Bà lại “độ” cho mùa màng được tốt tươi, cuộc sống no đủ, làng quê trù phú.

Cái tên “Phú Điền” có lẽ cũng bắt đầu từ ước vọng đủ đầy của người dân. Chính vì niềm tin ấy, từ thế kỷ thứ 7 dân làng Phú Điền đã cùng nhau lập nên ngôi đền nhỏ ngay giữa làng để thờ vị vua Bà. Đến thế kỷ 17, một ngôi đình làng bằng gỗ khang trang, bề thế ngay bên ngoài ngôi đền nhỏ đã được khởi dựng và Bà Triệu chính thức được suy tôn là Thành hoàng làng - vị thần bảo trợ người dân trong làng Phú Điền.

Cũng như trong cả nước, tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở các làng quê xứ Thanh là truyền thống văn hóa, phản ánh đời sống tâm linh của người dân. Thành hoàng là người có công, vị thần “bảo trợ” cho làng, vì vậy có những Thành hoàng còn được gọi là Phúc thần (vị thần ban phúc cho dân làng). Một làng có thể chỉ có một vị Thành hoàng nhưng cũng không hiếm làng thờ hơn một vị Thành hoàng (xã Hoằng Lộc); hay một vị thần cùng lúc được nhiều làng suy tôn Thành hoàng.

Để một người (thần) được suy tôn Thành hoàng, đó hiển nhiên phải là người có công trạng. Đó có thể là Thiên thần, Nhiên thần hay Nhân thần. Và “duệ hiệu” của các Thành hoàng cũng được phân loại rất rõ: Đương cảnh Thành hoàng; Bản cảnh Thành hoàng; Bản thổ Thành hoàng. Trong đó, Đương cảnh Thành hoàng là duệ hiệu được phong với số lượng nhiều nhất.

Cùng với đó, Thành hoàng cũng có “thứ hạng” khác nhau: Thượng đẳng thần (những thần danh sơn đại xuyên, thiên thần như Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh Công chúa...; hay những thánh nhân như Lý Thường Kiệt; Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn... họ là người khi còn sống thì có công lao hiển hách, mất đi được các triều đại và Nhân dân nhớ ơn thờ phụng).

Trung đẳng thần là những vị thần được dân làng thờ tự từ lâu (có họ tên mà không rõ công trạng, hoặc có quan tước mà không rõ họ tên...); Hạ đẳng thần (do dân xã thờ phụng, không rõ sự tích, thuộc bậc chính thần).

Và theo sách Thần tích - Thần sắc Thanh Hóa: “Việc thăng phong các vị Thành hoàng căn cứ vào sớ tâu của làng xã về công trạng của các vị thần. Sớ này phải nộp về triều đình trong một thời gian quy định. Các sắc phong đều được ban rước long trọng, cất giữ trang trọng trong hòm sắc thờ của địa phương. Có trường hợp, Thành hoàng chỉ là một người mà theo quan niệm là người được các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là Thành hoàng sống”.

Nói về tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, ông Nguyễn Văn Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di sản văn hóa Thanh Hóa cho biết: “Thành hoàng làng chính là vị thần “lớn” nhất trong làng. Tục thờ Thành hoàng làng bắt đầu có từ thế kỷ XV, gắn liền với việc hình thành mô hình làng xã (sau khi mô hình “thái ấp điền trang” thời Trần không còn). Thành hoàng làng thường được thờ ở đình làng, nhưng cũng có thể thờ ở đền (nghè), tùy vào đặc điểm của mỗi làng quê”.

Người Việt nói chung, vốn có đời sống văn hóa tinh thần vô cùng phong phú. Sự dung hòa của các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo tâm linh cùng tồn tại là đặc trưng văn hóa Việt. Ở đó, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là nét đẹp văn hóa truyền thống được trao truyền qua các thế hệ, ví như “điểm tựa” tâm linh của mỗi làng quê.

Khánh Lộc


Khánh Lộc

 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name}- {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]