Nghề cũ - đường sống mới
Ở xã Nga Thắng, những người đã quen tay với nghề mây tre đan vẫn làm rổ, rá, mẹt, mủng như nhiều năm về trước. Trong khi dòng sản phẩm truyền thống dần thu hẹp, các mặt hàng từ cói, bèo tây làm theo đơn đặt hàng lại mở thêm việc làm cho phụ nữ, người trung niên và người cao tuổi. Sự thay đổi về nguyên liệu, mẫu mã và cách tổ chức sản xuất đang tạo thêm hướng để nghề đan tiếp tục tồn tại.

Người dân làm các sản phẩm thủ công từ cói, bèo tây tại cơ sở của chị Lý Thị Tuyết, thôn Xa Liễn, xã Nga Thắng.
Bà Lại Thị Dần, 67 tuổi, ở thôn Xuân Tiến (xã Nga Thắng) làm nghề đan từ khi mới 5 - 6 tuổi. Ngày ấy, thấy bố mẹ chẻ tre, vót nan, đan rổ, rá, bà ngồi bên cạnh quan sát rồi tập theo. Người lớn làm, trẻ con nhìn; việc dễ làm trước, việc khó học dần. Làm sai thì tháo ra, đan lại. Chồng bà, ông Vũ Văn Tuyên, sinh năm 1958, thường đảm nhận những phần việc cần nhiều sức như chẻ, vót, xử lý nan. Ở Xuân Tiến, mây tre đan từng là công việc quen thuộc của nhiều gia đình, được truyền từ cha mẹ sang con cái theo cách bà Dần từng học.
Hiện nay, theo những người làm nghề, thôn Xuân Tiến còn khoảng 20 - 25 hộ duy trì nghề mây tre đan; người làm thường xuyên chủ yếu trong độ tuổi 50 - 65. Lao động trẻ ít theo nghề do có nhiều lựa chọn việc làm khác, trong khi nghề đan tre đòi hỏi nhiều công sức và thời gian để thành thạo. Cùng với việc ngày càng ít người trẻ theo nghề, thị trường của các sản phẩm truyền thống cũng thu hẹp. Rổ, rá, mẹt, mủng bằng tre phải cạnh tranh với đồ nhựa, inox được sản xuất hàng loạt, nhiều mẫu mã và dễ mua. Trong khi đó, giá bán sản phẩm thủ công khó tăng tương xứng với công sức người làm. Nguồn mây cũng ngày càng khó kiếm, một số công đoạn trước đây sử dụng mây nay đã phải chuyển sang vật liệu khác thay thế.

Bà Lại Thị Dần, 67 tuổi, thôn Xuân Tiến, xã Nga Thắng, đã gắn bó với nghề mây tre đan hơn 60 năm.
Vì vậy, người còn gắn bó với nghề ở Xuân Tiến chủ yếu là lớp thợ đã có tay nghề từ nhiều năm trước. Trong khi nghề đan tre truyền thống ở Xuân Tiến thu hẹp, tại một số khu dân cư khác của xã Nga Thắng lại hình thành cách làm mới: sử dụng cói, bèo tây, đa dạng mẫu mã và tổ chức sản xuất theo đơn đặt hàng. Trong sân nhà chị Lý Thị Tuyết, ở thôn Xa Liễn (xã Nga Thắng), những chiếc khung tròn xếp kín một khoảng nền. Nguyên liệu ở đây chủ yếu là cói, bèo tây đã qua xử lý. So với nan tre, vật liệu này mềm hơn và thuận lợi cho người mới bắt đầu ở nhiều công đoạn. Mẫu hàng cũng phong phú, từ giỏ, sọt, đồ đựng đến các sản phẩm trang trí, thủ công mỹ nghệ, tùy theo từng đơn đặt hàng. Đến nay, khoảng 50 người thường xuyên nhận việc từ cơ sở của chị. Theo chị Tuyết, người đã “cứng tay”, vào thời điểm đơn hàng đều có mức thu nhập khoảng 150.000 đồng/ngày. Những người tranh thủ làm tại nhà có thu nhập tùy thời gian và tay nghề, phổ biến vài triệu đồng mỗi tháng; có người đạt hơn 3 triệu đồng trong tháng nhiều việc.
Với phụ nữ trung niên, người cao tuổi hoặc những lao động khó đi làm xa, công việc này vừa tận dụng được thời gian rảnh, vừa tạo thêm thu nhập mà vẫn chủ động việc gia đình. Gia đình ông Vũ Duy Hóa, sinh năm 1959 và bà Mai Thị Hiên, sinh năm 1962, cùng ở thôn Xa Liễn, cũng chuyển sang làm hàng thủ công khoảng 3 năm nay. Hiện cơ sở tạo việc làm cho gần 30 người trong khu vực, phần lớn đã ngoài 50, 60 tuổi.

Người dân làm các sản phẩm thủ công từ cói, bèo tây tại cơ sở của chị Lý Thị Tuyết, thôn Xa Liễn, xã Nga Thắng.
Theo bà Nguyễn Thị Thìn, Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn Xa Liễn, hiện trong thôn có gần 80 người tham gia các nghề tiểu thủ công nghiệp, phần lớn từ 40 tuổi trở lên. Lao động trẻ chủ yếu đi làm tại các công ty; người nhận việc thủ công tại địa phương phần nhiều là phụ nữ, người trung niên, cao tuổi hoặc những người có thể tranh thủ làm tại nhà. Vì vậy, đơn hàng ổn định là điều kiện quan trọng để duy trì việc làm và thu nhập cho nhóm lao động này.
Nếu ở Xuân Tiến, lớp thợ lớn tuổi vẫn giữ những kỹ thuật đã theo họ suốt nhiều chục năm, thì tại Xa Liễn, nghề đan lại được tiếp nối bằng một cách khác: nguyên liệu thay đổi, mẫu mã đi theo đơn hàng, sản phẩm được làm theo nhu cầu của thị trường. Từ những vật dụng quen thuộc trong mỗi gia đình đến những chiếc mẹt cói được hoàn thiện để xuất sang Nhật Bản, nghề đan ở Nga Thắng đang cho thấy khả năng thích ứng để tồn tại. Giữ nghề hôm nay vì thế không chỉ là giữ lại một sản phẩm cũ, mà còn là tìm được cách để tay nghề của người dân tiếp tục tạo ra sản phẩm có thị trường, có việc làm và có thu nhập.
Bài và ảnh: Tăng Thúy





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu