Khơi dậy nguồn lực tăng trưởng từ đội ngũ công nhân lao động

(Baothanhhoa.vn) - Tăng trưởng "hai con số" là mục tiêu vĩ mô, nhưng động lực tạo nên tăng trưởng lại bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể trong từng doanh nghiệp: một thao tác được rút ngắn, một tỷ lệ sản phẩm lỗi được giảm xuống, một sáng kiến được áp dụng, một người lao động làm chủ công nghệ mới. Với Chương trình hành động giai đoạn 2026-2030, Công đoàn Thanh Hóa đã chủ động lựa chọn đúng không gian đóng góp của mình: tập trung nâng cao kỹ năng, thúc đẩy sáng kiến, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, xây dựng kỷ luật và văn hóa an toàn; qua đó biến tiềm năng của đội ngũ công nhân lao động thành nguồn lực trực tiếp cho phát triển.

Khơi dậy nguồn lực tăng trưởng từ đội ngũ công nhân lao động

Tăng trưởng "hai con số" là mục tiêu vĩ mô, nhưng động lực tạo nên tăng trưởng lại bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể trong từng doanh nghiệp: một thao tác được rút ngắn, một tỷ lệ sản phẩm lỗi được giảm xuống, một sáng kiến được áp dụng, một người lao động làm chủ công nghệ mới. Với Chương trình hành động giai đoạn 2026-2030, Công đoàn Thanh Hóa đã chủ động lựa chọn đúng không gian đóng góp của mình: tập trung nâng cao kỹ năng, thúc đẩy sáng kiến, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, xây dựng kỷ luật và văn hóa an toàn; qua đó biến tiềm năng của đội ngũ công nhân lao động thành nguồn lực trực tiếp cho phát triển.

Khơi dậy nguồn lực tăng trưởng từ đội ngũ công nhân lao động

Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh trao quà cho người lao động khó khăn tại Lễ phát động “Tháng Công nhân”, hưởng ứng “Tháng hành động về an toàn vệ sinh lao động” năm 2026. Ảnh: Thanh Huê

Đưa mục tiêu vĩ mô đến từng vị trí việc làm

Mục tiêu tăng trưởng “hai con số” đặt ra yêu cầu lớn hơn nhiều so với việc gia tăng quy mô sản xuất. Đó phải là sự chuyển biến đồng thời về năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, hiệu quả sử dụng nguồn lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng vốn, tăng cường độ lao động hoặc khai thác thêm tài nguyên, kết quả đạt được sẽ khó duy trì bền vững. Nền tảng lâu dài phải là năng suất thực chất và năng lực đổi mới sáng tạo.

Ở cấp độ doanh nghiệp, những yêu cầu ấy không tồn tại dưới dạng các khái niệm trừu tượng. Chúng được thể hiện bằng thời gian hoàn thành một công đoạn, tỷ lệ hàng lỗi, mức tiêu hao nguyên liệu và năng lượng, khả năng vận hành thiết bị, số ngày công bị mất, mức độ thích ứng với dây chuyền mới và chất lượng phối hợp trong tổ, chuyền sản xuất. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng của tỉnh chỉ có thể trở thành hiện thực khi được chuyển hóa thành hàng nghìn cải tiến nhỏ nhưng liên tục tại nơi làm việc.

Đây chính là không gian để tổ chức Công đoàn phát huy vai trò. Công đoàn không trực tiếp xây dựng kế hoạch kinh doanh, quyết định sản lượng, doanh thu, lợi nhuận hay GRDP; nhưng Công đoàn có điều kiện tập hợp, vận động và khơi dậy năng lực của chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị gia tăng - đó là đội ngũ công nhân, viên chức, người lao động. Công đoàn cũng là tổ chức gần người lao động, hiểu những khó khăn trong từng vị trí việc làm và có khả năng kết nối nguyện vọng của người lao động với yêu cầu phát triển của doanh nghiệp.

Việc Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hóa ban hành Chương trình hành động góp phần thúc đẩy tăng trưởng hai con số vì thế không chỉ mang ý nghĩa hưởng ứng một chủ trương chung. Điều quan trọng hơn là tổ chức Công đoàn đã chủ động nhận diện trách nhiệm, lựa chọn đúng phần việc và xác lập một cơ chế hành động có thể đo lường. Tính tiên phong không nằm ở việc nhận về mình những chỉ tiêu không thuộc thẩm quyền, mà ở khả năng tìm đúng “đường băng” để nguồn lực của người lao động cất cánh.

Năm kênh tác động tạo thành một chuỗi giá trị

Chương trình đã trả lời rõ một câu hỏi căn bản: Công đoàn đóng góp cho tăng trưởng bằng cách nào? Câu trả lời được xác định qua năm kênh tác động gắn trực tiếp với nơi làm việc.

Một là, nâng cao kỹ năng để tăng năng suất và chất lượng. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, lợi thế lao động không thể chỉ dựa vào số lượng hoặc chi phí nhân công. Khả năng làm chủ thiết bị, tuân thủ quy trình, xử lý tình huống, phối hợp trong dây chuyền và thích ứng với chuyển đổi nghề mới là yếu tố quyết định năng suất. Công đoàn tham gia khảo sát nhu cầu, vận động doanh nghiệp đào tạo tại chỗ, tổ chức kèm cặp, truyền nghề, đào tạo lại và tôn vinh công nhân kỹ thuật giỏi.

Hai là, thúc đẩy sáng kiến, số hóa và thực hành xanh để giảm thời gian, giảm lỗi, tiết kiệm chi phí. Người lao động là người trực tiếp vận hành máy móc, tiếp xúc với nguyên liệu và nhận biết rõ nhất những điểm bất hợp lý trong quy trình. Một thay đổi nhỏ ở vị trí làm việc, nếu được hỗ trợ hoàn thiện và nhân rộng, có thể tạo ra giá trị lớn cho cả dây chuyền.

Ba là, xây dựng kỷ luật, tác phong công nghiệp và văn hóa an toàn để giảm sự cố và ngày công bị mất. Trong mô hình sản xuất liên hoàn, một khâu mất an toàn hoặc một vị trí không tuân thủ quy trình có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống. An toàn lao động vì thế không chỉ là yêu cầu bảo vệ con người, mà còn là điều kiện duy trì năng lực sản xuất.

Bốn là, chăm lo, đối thoại và thương lượng để củng cố động lực, ổn định việc làm, cải thiện thu nhập và giữ chân lao động. Khi thành quả từ năng suất và sáng kiến được chia sẻ hợp lý, người lao động sẽ tích cực đồng hành với doanh nghiệp. Một đội ngũ ổn định, có kỹ năng và gắn bó cũng giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuyển dụng, đào tạo lại.

Năm là, tư vấn pháp luật và cảnh báo sớm để phòng ngừa tranh chấp, ngừng việc, duy trì sản xuất liên tục. Một môi trường làm việc ổn định, minh bạch và có đối thoại chính là “hạ tầng mềm” quan trọng của môi trường đầu tư.

Năm kênh tác động này không tồn tại riêng lẻ mà tạo thành một chuỗi liên kết: kỹ năng tốt hơn tạo ra năng suất cao hơn; sáng kiến làm giảm lỗi và chi phí; an toàn giúp bảo toàn ngày công; phúc lợi và chia sẻ lợi ích củng cố động lực; quan hệ lao động ổn định bảo đảm sản xuất liên tục. Đây là cách đóng góp đúng chức năng, thiết thực và có khả năng kiểm chứng của tổ chức Công đoàn.

Khơi dậy nguồn lực tăng trưởng từ đội ngũ công nhân lao động

Công nhân Công ty CP HP Vina Garment trong ca sản xuất. Ảnh: Đức Thắng.

Mỗi cơ sở một phần việc, mỗi phần việc một kết quả

Một hạn chế thường gặp của phong trào thi đua là mục tiêu đúng nhưng khoảng cách từ lễ phát động đến nơi làm việc còn xa; kết quả đôi khi mới được phản ánh qua số hội nghị, số hoạt động hoặc số người tham gia. Chương trình của Công đoàn Thanh Hóa đã chủ động thay đổi cách tiếp cận ấy bằng nguyên tắc lấy kết quả tại nơi làm việc làm thước đo.

Theo Chương trình, 100% công đoàn xã, phường và công đoàn cơ sở trực thuộc phải xây dựng kế hoạch hoặc nội dung triển khai; hằng năm đăng ký ít nhất một phần việc có sản phẩm, thời hạn và chỉ số đo lường. Mỗi phần việc phải bắt đầu từ một vấn đề cụ thể: năng suất thấp ở một công đoạn, tỷ lệ hàng lỗi còn cao, thời gian chuyển chuyền kéo dài, mức tiêu hao vật tư lớn, kỹ năng số chưa đáp ứng, nguy cơ mất an toàn hoặc chất lượng phối hợp trong dây chuyền chưa tốt.

Điểm mới không chỉ là yêu cầu “đăng ký thi đua”, mà là cấu trúc bắt buộc của phần việc: phải có số liệu ban đầu làm mốc so sánh; có mục tiêu đầu ra; có người chịu trách nhiệm; có đơn vị phối hợp; có thời hạn; có sản phẩm bắt buộc và tài liệu kiểm chứng. Đối với nhiệm vụ liên quan năng suất, chất lượng, thời gian hoặc chi phí, công đoàn cơ sở phải thống nhất với doanh nghiệp về phạm vi đo lường, nguồn số liệu trước - sau, đồng thời bảo vệ bí mật kinh doanh và dữ liệu cá nhân.

Chương trình đặt mục tiêu tốc độ tăng năng suất lao động trong các doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn bình quân hằng năm đạt từ 10% trở lên. Đây là mục tiêu thúc đẩy cao, nhưng không được hiểu là giao Công đoàn chịu trách nhiệm thay doanh nghiệp về sản lượng hay hiệu quả kinh doanh. Trách nhiệm của Công đoàn là tổ chức những tác động có thể kiểm chứng vào kỹ năng, sáng kiến, an toàn, động lực làm việc và quan hệ lao động; kết quả năng suất được đo trên cơ sở phối hợp và xác nhận phù hợp của doanh nghiệp.

Cách làm này chuyển câu hỏi đánh giá từ “đã triển khai hay chưa” sang những vấn đề thực chất hơn: đã giải quyết được điểm nghẽn nào; chỉ số nào thay đổi; người lao động được hưởng lợi ra sao; giải pháp có thể tiếp tục áp dụng hoặc nhân rộng hay không. Đó là bước chuyển từ quản lý hoạt động sang quản trị kết quả, từ chứng minh bằng số lượng sự kiện sang chứng minh bằng sản phẩm và tác động.

“Công nhân giỏi xứ Thanh”: sau giải thưởng là năng lực sản xuất

Hội thi “Công nhân giỏi xứ Thanh” năm 2026 là một điểm nhấn của Chương trình, nhưng được tổ chức theo tư duy vượt ra ngoài phạm vi một cuộc thi. Công đoàn cơ sở triển khai luyện tay nghề, thi hoặc tuyển chọn tại doanh nghiệp; cấp tỉnh chuẩn hóa đề thi, quy trình, thiết bị, vật tư, tiêu chí chấm và điều kiện an toàn. Qua đó, Hội thi trở thành một đợt rèn nghề sâu rộng từ cơ sở, tạo động lực học hỏi ngay trong quá trình sản xuất.

Giá trị cốt lõi của Hội thi không chỉ nằm ở việc lựa chọn người đoạt giải. Mỗi thao tác tốt, giải pháp kỹ thuật và sáng kiến được công nhận phải có phương án giới thiệu, áp dụng hoặc nhân rộng; kết quả được theo dõi từ ba đến sáu tháng theo các chỉ số về năng suất, lỗi, thời gian, chi phí, an toàn và thu nhập. Cách tổ chức này biến kỹ năng của một công nhân giỏi thành tài sản chung của tổ, chuyền và doanh nghiệp; biến thành tích tại Hội thi thành năng lực sản xuất trong thực tế.

Sau Hội thi, công nhân kỹ thuật tiêu biểu tiếp tục được bồi dưỡng để trở thành lực lượng nòng cốt kèm cặp, truyền nghề. Khi một người thợ giỏi giúp nhiều đồng nghiệp tiến bộ, giá trị của kỹ năng được nhân lên và tạo ra hiệu ứng lan tỏa. Đây là hình thức nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn chặt với vị trí việc làm, khắc phục tình trạng đào tạo tách rời yêu cầu sản xuất.

Chương trình đồng thời phấn đấu hằng năm có ít nhất 80% đoàn viên, người lao động tại doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn được tiếp cận tối thiểu một hoạt động học tập, bồi dưỡng; ít nhất 70% được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng số và 75% được tiếp cận công nghệ số phù hợp với công việc. Những chỉ tiêu này cho thấy Công đoàn Thanh Hóa không nhìn người lao động chỉ ở vị trí cần được bảo vệ, mà còn nhìn nhận họ là nguồn nhân lực cần được đầu tư, là chủ thể có khả năng làm chủ công nghệ và tạo ra giá trị mới.

Để sáng kiến của công nhân trở thành nguồn lực phát triển

Tăng trưởng cao về lâu dài phải dựa nhiều hơn vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, Chương trình đặt mục tiêu hằng năm có trên 12.000 sáng kiến của đoàn viên, người lao động được đề xuất; lựa chọn ít nhất 20 sáng kiến tiêu biểu đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xét tặng Bằng Lao động sáng tạo. Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng hơn con số là việc hình thành một cơ chế để sáng kiến không dừng ở ý tưởng hoặc hồ sơ thi đua.

Quy trình bốn bước - tiếp nhận ý tưởng, hỗ trợ hoàn thiện, phối hợp thử nghiệm, xác nhận hiệu quả và khen thưởng - đã xác định rõ hành trình của một sáng kiến. Công đoàn cơ sở duy trì kênh tiếp nhận, theo dõi trạng thái xử lý; doanh nghiệp phối hợp thử nghiệm và xác nhận hiệu quả; chuyên gia, kỹ sư, cơ sở đào tạo có thể tham gia kiểm chứng. Sáng kiến được ưu tiên vào những vấn đề trực tiếp tạo giá trị: tăng sản lượng, giảm hàng lỗi, tiết kiệm vật tư và năng lượng, rút ngắn thời gian, số hóa công đoạn, cải thiện an toàn và môi trường.

Việc vận động 100% doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn và từ 500 lao động trở lên thành lập “Tổ nòng cốt sáng kiến”, trên 70% doanh nghiệp trọng điểm xây dựng “Câu lạc bộ Công nhân sáng tạo” hoặc mô hình tương đương sẽ hình thành lực lượng tổ chức phong trào ngay tại cơ sở. Cùng với đó, Ngân hàng sáng kiến Công đoàn Thanh Hóa được định hướng xây dựng theo mô hình dữ liệu mở có kiểm soát, mỗi sáng kiến có mã nhận diện, tác giả, vấn đề, giải pháp, trạng thái áp dụng, hiệu quả và khả năng nhân rộng; đồng thời bảo vệ quyền tác giả, sở hữu trí tuệ và bí mật kinh doanh.

Đây là một bước tiến về quản trị tri thức. Sáng kiến không còn nằm rời rạc trong từng hồ sơ, từng doanh nghiệp mà được phân loại, theo dõi vòng đời và kết nối với nhu cầu đổi mới công nghệ. Một giải pháp đã chứng minh hiệu quả tại một đơn vị có thể gợi mở cách xử lý vấn đề tương tự ở đơn vị khác trong phạm vi được phép chia sẻ. Khi tri thức thực tiễn của công nhân được thu nhận, bảo vệ và lan tỏa, phong trào sáng kiến mới thực sự trở thành nguồn lực của tăng trưởng.

Điều đặc biệt quan trọng là lợi ích từ sáng kiến phải quay trở lại với người tạo ra nó. Chương trình phấn đấu 30% người lao động có sáng kiến được áp dụng được doanh nghiệp khen thưởng tương xứng với lợi ích mang lại; đồng thời đưa nội dung chia sẻ lợi ích từ năng suất, sáng kiến và cải tiến kỹ thuật vào đối thoại, thương lượng. Đây vừa là yêu cầu công bằng, vừa là cơ chế tái tạo động lực sáng tạo.

Sự tiên phong của Công đoàn Thanh Hóa vì thế không nằm ở lời khẳng định chung chung, mà thể hiện ở việc đưa người lao động từ vị trí “đối tượng vận động” trở thành chủ thể của đổi mới, năng suất và phát triển.

Với phương châm “TỈNH PHÁT ĐỘNG - CƠ SỞ HÀNH ĐỘNG - NGƯỜI LAO ĐỘNG HƯỞNG ỨNG”, những mục tiêu lớn của tỉnh đang được chuyển hóa thành phần việc cụ thể tại từng nhà máy, phân xưởng, tổ, chuyền và vị trí việc làm. Khi kỹ năng được nâng lên, sáng kiến được áp dụng và trí tuệ của người lao động được ghi nhận xứng đáng, đóng góp của tổ chức Công đoàn đối với tăng trưởng sẽ được khẳng định bằng chính hiệu quả trong thực tiễn.

Tiến sĩ Lương Trọng Thành, Ủy viên Ban Thường vụ Tổng LĐLĐ Việt Nam, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Thanh Hóa

Chủ đề Công đoàn Thanh Hoá

Bình luận

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Tin cùng chuyên mục

Công tác chăm lo cho người có công: Bước chuyển mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang tư duy phục vụ

Công tác chăm lo cho người có công: Bước chuyển mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang tư duy phục vụ

Báo hằng tháng
(Baothanhhoa.vn) - Việc vận hành chính quyền địa phương 2 cấp cùng với những điều chỉnh về chính sách đang đặt ra yêu cầu mới trong tổ chức thực hiện công tác chăm lo cho người có công. Thời gian qua, Thanh Hóa đã nỗ lực đổi mới tư duy, cách làm để bảo đảm mọi người...
“Mùa hè số cùng VNeID”

“Mùa hè số cùng VNeID”

Chuyển đổi số
(Baothanhhoa.vn) - Không còn là những khái niệm xa lạ, chuyển đổi số đang hiện hữu trong đời sống thường ngày qua những tiện ích thiết thực như: Sử dụng ứng dụng VNeID để khám, chữa bệnh; thực hiện dịch vụ công ngay trên điện thoại hay thanh toán không dùng tiền...
Chứng nhận tín nhiệm mạng
Việt Long Phần mềm tòa soạn
hội tụ thông minh