Giữa mùi nén thơm
Mười lăm năm tròn. Kể từ lần gần nhất Quyên về nhà thờ tộc, tới nay đã được mười lăm năm. Cứ tưởng bà con họ hàng không ai nhận ra, vì Quyên bây chừ đâu còn là con bé ốm nhách đen thui, nhìn có vẻ bẩn bẩn nhớp nhớp như hồi xưa. Thế mà có người vẫn nhớ, có người ngờ ngợ nhíu mày lục ký ức...

Minh họa: BH
Đợt này có nhiều người lạ mặt, Quyên mới gặp lần đầu, dẫu tên họ đã nghe loáng thoáng từ rất lâu. Hồi nhỏ, ba thường chở Quyên về mỗi dịp giỗ quảy hoặc mùng một tết để chào hỏi họ hàng sau một năm biền biệt. Quyên ít khi nào tới nhà thờ tộc vào ngày chạp mả. Hôm qua, hôm tê anh hai đã về trước để nhổ cỏ, đắp cát lên mộ, thay cát ở lư hương. Anh biểu hàng keo lá tràm trồng mấy năm trước đã cao lớn, xanh um một khoảng trời.
Nay anh dẫn má và Quyên lên nổng cát thắp nhang. Được bữa trời xanh thăm thẳm, nắng vàng rực rỡ. Ba bóng người nghiêng nghiêng trên cát trắng lún chân, băng qua những bụi cỏ gai, cỏ cú, đi tìm từng ngôi mộ của ông cố, ông bà nội, các chú bác và các cô. Và cả mộ ba Quyên. Chẳng hiểu sao khi xưa ông nội lại chôn người mất rải rác xa nhau thế, tới lui ngang dọc chẳng theo trật tự tâm linh nào. Có phải vì thế mà người còn sống mới phân tán muôn nơi?
Phải công nhận anh hai giỏi nhớ, như thể vẽ sẵn bản đồ trong đầu. Chớ với Quyên, đứng giữa chốn mênh mông u tịch này, ngôi mộ nào cũng giống nhau. Anh hai tìm được hết mười mấy ngôi mộ, hệt như ngày anh còn nhỏ ba đã dắt đi chỉ từng nơi an nghỉ của người thân. Lúc đó về quê khó khăn hơn bây chừ nhiều. Ba đạp xe đèo Quyên đằng sau lưng, anh hai cong mông đạp chiếc xe khác bên cạnh. Người ba ốm yếu như que tăm, tưởng đâu khi băng ngang cánh đồng gió thổi là bay, thế mà năm nào ba cũng về.
***
Ba dẫn má tôi rời làng lên thị trấn mua đất làm nhà, thời gian đầu vẫn làm ăn dư dả. Đời lên voi xuống chó mấy hồi, vì cơn cớ chi đó, nhà Quyên lụi tàn dần. Nghèo tới mức phải đi mua chịu gạo, mắm muối cũng không có mà ăn. Bận nào tới tết, ba cũng chở hai anh em về quê mà lòng nặng trĩu gánh lo toan, ngại ngần. Bà con hiểu thấu, nên họ có ý không coi trọng lắm. Đứng trước ba, họ không dám thể hiện ra. (Hoặc là có, nhưng ba đã lờ đi).
Có mấy mùa hè, ba cho Quyên về ở hẳn nhà họ hàng. Con bé con ròm riết, ăn có được nhiêu đâu, chỉ là thêm đôi đũa cái chén thôi mà. Có người thương sẽ hiểu, có kẻ vẫn thấy phiền hà.
Từ hồi bé xíu, Quyên đã cảm nhận rõ ràng từng ánh mắt, từng nét mặt, từng câu nói ẩn ý. Đôi khi nhạy cảm quá không phải món quà, mà là nỗi bất hạnh. Sanh ra trong cái đói, Quyên già dặn sớm, hệt như bà cụ non, coi rõ thái độ lòng người để sống. Chừng được mười tuổi, Quyên đã bắt đầu ghét những ngày phải về quê thăm họ hàng. Tới khi học cấp ba, Quyên chỉ lên nổng cát thắp nhang cho ông bà chớ tiệt nhiên không ghé nhà ai nữa. Năm đó, ba cũng đã quá già để có thể đèo mấy đứa con đi quãng đường gần hai chục cây số về quê. Miên miết mười lăm năm rồi Quyên mới lại bước chân vào nhà thờ tộc.
Đâu phải Quyên nghĩ bậy hay gán điều xấu xí cho người ta. Đang đứng trò chuyện cùng người chị dâu con bác họ, thì chồng chị chạy lại. Anh ta hớn hở chỉ tay về phía một người phụ nữ tóc bạc quê mùa, hai mắt mờ đục, ngồi cười khờ với cô ruột của Quyên.
- Ê vợ, bà cô kia từng ở nhà mình hái cà thuê cho ba mình đó. Em nhớ không?
Anh ta vừa nói vừa cười mỉa, kiểu không biết tại sao bây chừ người đàn bà tội nghiệp đó lại ở đây. Xưa nhà nghèo thế, nay đã khá hơn chưa? Hay là vẫn còn phải lủi thủi đạp xe về.
- Bà cô mà anh nói là má em.
Quyên nhìn theo hướng tay của anh ta, nhận ra ngay lập tức, liền tự tin đáp lời. Hai vợ chồng sượng trân, vội nói lảng sang chuyện khác.
- Em chở má về quê hở? Ba anh là Hai Long, tính ra em phải gọi bằng bác.
Quyên biết chớ, người bác khác ông nội, người đã bắt chẹt má, trả công hái cà phê rẻ bèo. Người bác mà hồi nhỏ Quyên chỉ nghe tên thôi, chưa hề gặp mặt đã ghét cay ghét đắng. Năm đó Quyên mới được chừng bốn, năm tuổi. Ba đã cản má rồi, đừng làm thuê cho bà con, họ hàng. Đặc biệt là nhà ấy, họ chẳng phải người đàng hoàng. Nhưng khi nhìn thấy những đứa con đói giơ xương sườn, má đành gạt phắt cái tôi. Hình như cả đời má đều sống như thế. Cúi đầu, nhẫn nhịn. Ai nói chi mặc kệ. Miễn dùng mồ hôi công sức đổi đồng tiền thiện lương nuôi con khôn lớn. Lúc má vào nhà ông ta, mặt bầu má phính, có thịt có da. Sau vài tháng làm mướn, trở về nhà còn hai má hóp, gầy sọp bởi sụt cả chục ký.
Nếu là mười mấy năm trước, khi nghe giọng điệu anh ta chỉ trỏ má như thế, chắc chắn Quyên sẽ dị phát khóc. Có lẽ cảm giác tủi nhục sẽ hùng hổ nhảy bổ vào người. Nhưng bây chừ, Quyên đã gạt được hết những suy nghĩ sai trái ấy. Ba má dành cả đời khổ cực, chắt chiu từng chút để nuôi Quyên khôn lớn, ăn học đầy đủ. Hai người kiếm tiền chân chính, dẫu là làm thuê thì cũng đâu có gì xấu. Họ, những kẻ khinh khi người khác mới là tệ hại.
***
Cô Út con bà nội từ trong bếp gọi với ra, cắt ngang dòng suy nghĩ của Quyên. Còn vài món chưa nấu xong, mấy đứa chào hỏi sơ sơ rồi xắn tay áo phụ cho kịp lễ cúng chạp. Quyên ngồi chồm hổm ôm rổ nén chà vỏ, rồi dùng chày đập dập trong khi cô Út đang bắc chảo dầu phụng. Nén xèo xèo trên lửa nóng, mùi thơm cay nồng xộc vào mũi, lâu lắm rồi Quyên mới ngửi lại mùi thơm thân thuộc này. Quyên ở trong Nam luôn ăn uống qua loa, cơm hàng cháo chợ dễ chi nghe được mùi nén trồng đất cát.
Trước khi lên thị trấn, má ở quê cũng trồng nén, hành. Mùa hè miền Trung nắng khô nắng cháy, thế mà củ nén vẫn kiên cường lớn lên. Rồi sang tháng lụt, củ nén bám đất đội mưa đứng vững, xanh um. Tự thân nén hạt mẩy, hạt tròn, chớ chẳng ai nghiên cứu, lai tạo hay tìm cách trồng giống nén cao sản.
Thường sẽ có một vụ nén thu hoạch vào đầu tháng Chạp, đặng kịp bán cho người ta ăn tết. Củ nén bé xí bằng đầu ngón tay út, thế mà mùa nào cũng nuôi đủ bao miệng ăn. Ghiền tới nỗi hầu như món nào cũng có. Kho cá, xào thịt, khử dầu nấu canh, ăn kèm các loại bánh mặn hay cắt nhỏ, cho vào tô cháo ăn khi đang ốm, mệt thì cũng thấy tỉnh hẳn người...
Củ nén, hương nén là ký ức cất dành trong tâm khảm, không gì thay thế hay xóa nhòa được. Ở thành phố, thỉnh thoảng Quyên chạy ra ngôi chợ của người miền Trung, ăn vài món quê cho đã thèm cơn nhớ. Nhưng dẫu làm cách gì, cũng không thể nào khỏa lấp được sự trống trải trong lòng. Ăn ở xứ khác đôi khi chan kèm nước mắt, chỉ khi ngồi giữa quê nhà mới có sự ấm áp ngập tràn. Chẳng thế mà cô Út vẫn mê củ nén quê cha, dù cuộc đời bôn ba xứ người đã bốn chục năm tròn. Cái gốc chân chất, quen kiểu mắm muối mặn mòi, nhiều hồi thấy bơ đường sữa mà ngán tận cổ.
***
Lần đầu tiên Quyên gặp cô Út, lại cứ tưởng thân nhau từ lâu lắm. Cô nắm tay Quyên, thủ thỉ dặn dò đủ thứ. Cô thương ba con nhiều, nhưng anh em ở xa nhau quá, hồi đó nghèo khó, phần ai nấy sống, lo bươn chải quăng quật với đời. Thấy tụi con học hành đàng hoàng, lớn lên giỏi giang, cô mừng thiệt. Con yên tâm, sau này có chi cần cứ ới cô một tiếng, giúp được cô giúp liền. Đúng là, khi nào người ta giàu có thì mới thảnh thơi đủ đầy lễ nghĩa, thoải mái hào phóng giúp đỡ. Dù biết chỉ là câu nói thuận miệng, chưa chắc Quyên sẽ nhờ vả chi, nhưng lời động viên đó vẫn xoa dịu bao ấm ức trước nay của Quyên.
Hóa ra, có người họ hàng như bác Long thì cũng có người bà con như cô Út. Cái nghèo khiến Quyên tự ti, tự ái. Quyên giận họ vì bị coi thường hay giận chính cảnh nhà ba má nghèo, điều đó không quan trọng nữa. Lớn rồi, giữ làm chi mãi những lẫy hờn trẻ con. Chừ thì Quyên hiểu, nếu mở lòng ra, quê cha đất tổ vẫn rộng vòng tay đón chào. Nhiều chú bác lần đầu gặp Quyên, vẫn tay bắt mặt mừng. “Nghe đồn con bé ni hồi nhỏ học giỏi lắm nề. Nhà nghèo vượt khó nổi tiếng cả thị trấn. Bữa ni làm chi rồi con? Lấy chồng chưa? Hồi mô cưới nhớ mời bác nghe”. Vài câu nói thôi mà ấm như cái nắng hanh ngọt những ngày
cuối Chạp.
Cô Sáu con bà nội họ, người cô dù nghèo vẫn chăm sóc Quyên suốt tháng hè năm đó, ôm đứa cháu xa cách lâu ngày. Cô hỏi sao con biền biệt bao năm. Cô dượng già cả hết rồi, sắp thành người thiên cổ như ba con. Tranh thủ cô dượng còn khỏe mạnh ngày nào, con nhớ ghé chơi cho vui nhà vui cửa. Quyên vẫn còn nhớ, ngày ba mất, cô Sáu đã khóc như thể ba là em trai ruột thịt. Bỗng nhiên Quyên thấy mình tệ thiệt tệ, phận làm con cháu mà cứ trách hờn người lớn. “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn. Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu. Người ta nguồn gốc từ đâu. Có tổ tiên trước rồi sau có mình”. Ngồi giữa vòng tay của cô Sáu, đầu Quyên chợt hiện về câu ca dao mà ngày xưa ba thường ngâm nga trên chặng đường đạp xe về nổng cát thăm mộ ông bà nội.
Trong gian bếp ở nhà thờ tộc, những củ nén quê khử dầu chín vàng ruộm bay mùi thơm nức mũi. Tết về rộn ràng sát bên hiên, khi những đứa con phương xa đã tề tựu đông đủ. Chắc bởi sắp được ăn ngon, nên tự dưng Quyên rưng rức nhớ ba vô chừng.
Truyện ngắn của Ny An





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu