Về câu tục ngữ “Thành đá không bằng dạ người”
“Thành đá không bằng dạ người”: Thành (xây bằng) đá cũng chẳng (bền vững bằng những thứ được ghi giữ lại trong lòng dạ con người). Hay dùng để chỉ rõ một lẽ thật: “Những gì được người đời ghi giữ trong lòng mới là những thứ lâu bền đích thực”.

Trên đây là lời giải thích của “Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương - NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh - 2010). Tác giả liên tưởng đến câu “Trăm năm bia đá còn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, rồi lầm “thành đá” ra “bia đá” chăng?
Thực ra, “thành đá” ở đây ví với sự xây đắp, củng cố lực lượng để bảo vệ cơ đồ của một triều đại hoặc một thể chế, một quốc gia. Nhưng quân đội lớn mạnh, thành cao, hào sâu bao nhiêu chăng nữa mà không thu phục được nhân tâm, không được ủng hộ bởi lòng dân, lòng trời, thì triều đại, quốc gia ấy không những khó có thể đứng vững, mà còn sẽ nhanh chóng sụp đổ, nhường chỗ cho một triều đại mới, thậm chí mất cả giang sơn vào tay ngoại bang.
Có lẽ câu tục ngữ Việt đang xét tổng kết từ bài học lịch sử cách đây hơn nửa thiên niên kỷ.
- Hồ Quý Ly trong tay có tất cả, giang sơn gấm vóc, quân đội hùng mạnh, thành cao, hào sâu... Nhưng “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà/ Để trong nước lòng dân oán hận”(1) Khi nhà Minh lăm le xâm lược, Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã sớm bày tỏ sự lo ngại với Thượng hoàng Hồ Quý Ly: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”!
Hồ Nguyên Trừng giăng xích sắt trên sông, dựng phòng tuyến trải dài mấy trăm dặm quyết tâm chống giặc... Nhưng rồi tất cả thành lũy, phòng tuyến ấy đã lần lượt và dễ dàng tan vỡ trước sức tấn công ào ạt của quân Minh. Họ Hồ bỏ Kinh đô, lùi dần về Thanh Hóa. Thái thượng hoàng Hồ Quý Ly, Hoàng thượng Hồ Hán Thương, Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng... đã không dám/không thể thủ thành chiến đấu. Cha con họ Hồ bỏ cả cơ đồ Đại Ngu, bỏ cả Tây Đô thành đá sừng sững có một không hai... trốn chạy vào vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Nhưng rồi giặc Minh cũng đuổi kịp. Thái thượng hoàng Hồ Quý Ly bị bắt giải về Kim Lăng kinh đô nhà Minh, rồi tất cả anh em con cháu họ Hồ cũng lần lượt bị bắt sống sau đó.
- Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa khi đất nước đã rơi vào tay giặc: “Vừa khi cờ nghĩa dấy lên/ Chính lúc quân thù đang mạnh/... Tuấn kiệt như sao buổi sớm/ Nhân tài như lá mùa thu.../ Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần/ Lúc Khôi Huyện quân không một đội...”(2). Nhưng Lê Lợi được lòng trời, lòng người. Khắp vùng miền Tây Thanh Hóa - Nghệ An, không ở đâu in dấu chân nghĩa quân Lam Sơn mà không lưu giữ những truyền thuyết về sự che chở tài tình của thần linh, mưu trí của dân chúng, giúp Lê Lợi và nghĩa quân bao lần thoát chết trong gang tấc trước sự truy đuổi ráo riết của giặc Minh. Đặc biệt, khi Lê Lợi bị vây hãm ở Trịnh Cao, Lê Lai liều mình cứu chúa, giả xưng là Chúa Lam Sơn, dẫn 500 quân cảm tử xông vào trại giặc tả xung hữu đột để mở đường thoát cho chủ tướng Lê Lợi và nghĩa quân.
“Quân lính một lòng phụ tử”, trải mười năm nếm mật nằm gai, Lê Lợi cùng đại quân từ Nghệ An, Thanh Hóa, tiến dần ra Bắc, lần lượt phá lũy, vây thành, hạ trại, quét sạch giặc Minh khỏi bờ cõi, thu lại giang sơn gấm vóc Đại Việt.
Trong số các cuốn từ điển, chúng tôi thấy Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Nhóm Vũ Dung - Vũ Thúy Anh - Vũ Quang Hào) giải thích đúng: “thành đá không bằng dạ người: Mọi người đoàn kết một lòng một dạ chiến đấu thì mạnh hơn có thành quách kiên cố”.
Bài học lịch sử này đến muôn đời vẫn còn giá trị.
Hoàng Tuấn Công (CTV)
(1), (2) Trích Bình Ngô đại cáo.





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu