Lời chào quá khứ: Dư vị còn mãi
Những năm tháng chiến tranh là chất liệu, vốn sống để tạo nên tên tuổi nhà văn Trung Trung Đỉnh. Từng trang viết của ông, không chỉ miêu tả về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, mà còn lột tả nỗi niềm thân phận, mơ ước sống một đời bình thường ở thời hậu chiến.

1. Năm 1968, Trung Trung Đỉnh cùng binh đoàn hành quân trên dãy Trường Sơn nhưng bị sốt rét phải nằm lại giữa đường, được đưa về một đơn vị quân đội toàn những người Ba Na, trở thành “người lính Ba Na” suốt cuộc chiến tranh. Năm 1971, một lần, bộ đội đánh đồn An Khê, địch bỏ chạy, ông nhận được cái hộp, mở ra mới biết là máy đánh chữ kèm hai cuộn giấy. Mừng quá, ông mang luôn về hang đá trong rừng sâu tập đánh máy, vừa đánh vừa nghĩ một câu chuyện. “Những khấc coong chung” ra đời, dựa trên thực tế cuộc họp tìm cách đánh địch của đơn vị. Chính cái tiêu đề rất Tây Nguyên này là “cột mốc” đánh dấu chặng đường trở thành nhà văn của ông.
Những tháng ngày ở Tây Nguyên, ông đảm nhiệm đủ vai trò, từ lính địa phương quấy rối địch trong các ấp chiến lược, cán bộ nằm vùng cơ sở, người chiếu bóng đến cả nhân viên y tế bất đắc dĩ khi y tá đơn vị hy sinh. Ông gắn bó máu thịt với đất và người Tây Nguyên đến mức có thể sử dụng thành thạo cả tiếng Ba Na, Gia Rai.
Những năm tháng đời người ấy, vừa là giấc mơ vừa là những nỗi day dứt của một người cầm bút. Vì thế mà chiến tranh ở Tây Nguyên trở thành đề tài quen thuộc, là vùng ký ức, là chất liệu xuyên suốt các thể loại: ký, truyện ngắn, tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh. Ai đọc “Lạc rừng” sẽ không quên chuyện kể về Bình, 18 tuổi, từ Bắc vào chiến đấu ở Tây Nguyên. Chưa kịp tham gia trận đánh nào, Bình bị lạc đơn vị, lạc trong rừng và lạc vào một cộng đồng những người kỳ lạ. Anh bắt đầu tháng ngày khắc phục sự lạc lõng để hòa nhập vào một cộng đồng xa lạ nhưng có cùng chí hướng: đánh Mỹ. Là tiểu thuyết “Lính trận”, kể về cuộc sống của người lính dưới gầm trời Pleime - Ia Đ’răng 1965, xung quanh là các loại tiếng nổ, bom bi, phản lực... Tại đó, người kể chuyện xưng tôi, một anh lính hậu cần ghi lại những gì mình và tiểu đội trải qua, từ lúc đăng lính, huấn luyện ở hậu phương rồi hành quân hàng tháng trời vào Tây Nguyên, đối diện với không khí tức thở của chiến trường, khi đồng đội lần lượt ngã xuống.
Tây Nguyên hiện lên đẹp đẽ, bi tráng và chân thực. Tây Nguyên vừa là nỗi ám ảnh, vừa là sự mê hoặc, để Trung Trung Đỉnh sống và viết, một đời không hết.
2. Cầm bút từ khi còn mặc áo lính nhưng Trung Trung Đỉnh thuộc lớp nhà văn trưởng thành sau năm 1975. Bên cạnh mảng đề tài về cuộc sống và chiến đấu của đồng bào Tây Nguyên là những tác phẩm viết về đề tài hậu chiến, với những “Ngõ lỗ thủng”, “Lời chào quá khứ”, “Tiễn biệt những ngày buồn”... đi vào guồng quay âm thầm mà khốc liệt của hiện thực đời sống mới với “trăm chiều dở dang”. Hình ảnh người lính trong chiến tranh không sợ gian khổ, rắn rỏi, hồn nhiên bao nhiêu thì trở về với thời bình lại có bấy nhiêu sự mong manh, bất an. Càng đọc Trung Trung Đỉnh, người ta càng gặp muôn khúc sự đời, càng thấm thía về chiều sâu dư âm chiến tranh.
“Lời chào quá khứ” là tên của một tập sách với 18 truyện ngắn, gợi lại không khí từ thời hậu chiến đến những năm đổi mới. Nhà phê bình Ngô Thảo nhận định, Trung Trung Đỉnh thuộc thế hệ những người đi qua một thời quá đặc biệt, một thời mà bất cứ cục đất nào, cây cỏ nào ném vào cuộc chiến cũng có thể đưa ra ý nghĩa.
Chỉ một cái tên “Lời chào quá khứ” đã gợi cho người đọc hình dung rằng, có thể đây là sự rũ bỏ, cũng có thể là nỗi nhớ thậm chí là những mong ước vượt thoát để hướng tới cuộc sống hiện tại, tương lai.
Truyện kể lần gặp gỡ của chị Thản với nhân vật “tôi” – y tá Thiêm, vào đúng lúc giao thừa, cái thời khắc chuyển giao độc đáo của thời gian, trong không gian bệnh viện, khi “cái mũ giải phóng con” đã chào đời. “Hội đồng hương Tây Nguyên” của Thiêm còn có 4 người khác. Đó là Thảo, trước ở trên cơ quan mặt trận, giờ là nhà nghiên cứu lịch sử quân sự, pho từ điển sống về những sự kiện diễn ra ở Tây Nguyên. Là Thủy, chiến sĩ dưới sư đoàn 2, giờ là nhà văn. Là bác sĩ Thực, người có bàn tay vàng. Là Thiềng, trợ lý tác chiến một huyện đội, đã nghỉ hưu. Họ thực sự hào hứng khi “sưu tầm” thêm được một đồng hương mới - chị Thản.
Những sự không bình thường của cô quân y Thản trong chiến tranh đã được ghi chép khoảng vài chục trang trong quyển số của Thiêm với đủ lời đồn, đặc biệt là lời đồn cô Thản đã đi chiêu hồi. Họ đọc cho nhau nghe vui vẻ. Cái lần gặp đầu tiên ấy họ đã chứng kiến những giọt nước mắt của chị Thản để rồi nhận ra quá khứ của chị Thản không phải là cái gì đấy vui vẻ mà họ hùa vào thưởng thức. Rằng sự thực bao giờ cũng có một khoảng trống kích thích ta tìm tòi và chính cái khoảng trống ấy đã gây nên không biết bao nhiêu ảo giác.
Lần gặp chị Thản sau đó, chị đem cả cháu Nghĩa – con trai chị đã 16 tuổi. Kể lại cuộc đời mình, chị Thản cũng hiểu rằng, mọi sự đã qua. Nhưng cái dư vị của nó còn đắng mãi. Bởi chị có lý do để mặc cảm quá khứ.
Chiến tranh như là cái cớ để chị gặp anh Q, anh L, Kơ Tít, Bờ Tàu. Và số phận thì cố tình đẩy chị tới những bước ngoặt mà chính chị không thể hình dung được. Để sau này chị cũng không cách nào nguôi ngoai vì những vết thương do chính chị tự đánh vào đời mình. “Tôi nằm ôm con nuốt nỗi cay cực của mình mà thầm thề rằng quá khứ hãy cút khỏi nơi đây. Rằng đời tôi không phải là cái túi chứa đựng những bất hạnh”.
Sau ngày giải phóng, chị được bà con đưa ra trạm thu dung. Vì toàn bộ giấy tờ đã bị mất. Lúc ấy chị đã nghĩ ra một cái lí lịch hoàn toàn khác. Rằng chị là y sĩ của K55. Chị được cử ở lại phía sau trồng thuốc Nam, chế biến thuốc Nam, dựa vào dân làng. Rằng chồng chị là Nguyễn Thành Trung, anh ấy đã hy sinh. Con chị là Nguyễn Trung Nghĩa.
Chuyện không có lời than vãn nào, chỉ đơn giản là kể lại mà thấm thía, mà thấy chiến tranh có thể biến những điều không thể thành có thể, biến người phụ nữ trẻ trở thành đàn bà trải sự đời, rất ngẫu nhiên. Có những hoàn cảnh dẫu biết trớ trêu mà không có cách gì thoát ra được.
Chị Thản bất đắc dĩ phải lựa chọn nhưng chị chưa bao giờ đi chiêu hồi. “Lời chào quá khứ" có thể chỉ là mong ước của chị Thản, hoặc của ai khác nhưng quả thật cũng đến lúc phải khép lại những chuyện buồn. Những ngày tối tăm đã qua, chị Thản được trải lòng mình và ngẩng đầu tự tin bước tiếp.
Chiến tranh đã qua đi hơn 50 năm, thế hệ chúng tôi không biết đến mùi thuốc súng, không hiểu hết nỗi đau mà những người dự phần vào cuộc chiến đã trải qua. Song qua những trang văn chúng tôi phần nào hiểu được sự khốc liệt, không chỉ là thuốc súng, hay bom đạn, mà là có những sự việc con người phải vượt lên hoàn cảnh của mình. Chiến tranh qua đi, khép lại một chặng đường lịch sử của dân tộc ta thật hào hùng, vĩ đại và mở ra nhiều cuộc đời mới. Ý nghĩa đẹp nhất của hòa bình cũng là ở điều này.
Nhà văn Trung Trung Đỉnh đã từng chia sẻ: Chính truyện ngắn này đã giúp tôi vượt ra khỏi những ám ảnh nặng nề của những ngày sau chiến tranh. Tôi luôn luôn có ý nghĩ mình được hưởng niềm hạnh phúc quá lớn trong khi đó, đồng đội mình, nhiều người cứ gặp hết bất trắc này đến tai ương kia. Tôi nhớ đến các chị, các anh ở đơn vị cũ và tôi viết như viết trong trạng thái say ký ức. Tôi không tự chủ được ngòi bút của mình. Thiên truyện tự nó được viết ra như nó đã có sẵn trong tôi từ hồi nào, giờ đây chỉ việc trào ra.
Ông đã không quên những tháng ngày chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên, viết ra vừa là lời chào đồng đội, đồng thời là lời nhắc nhớ cho thế hệ sinh sau chiến tranh. Từ chiến trường đến văn chương, nhà văn Trung Trung Đỉnh mang cả cuộc đời vào những trang viết. Dù ở thời chiến cũng như thời bình, ông vẫn là người kể chuyện chân thực, viết bằng ký ức và trái tim nóng hổi.
Bài và ảnh: CHI ANH





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu