Nhạc cụ kể chuyện văn hóa bản làng
Từ tiếng sáo ôi dìu dặt, tiếng đàn cò ke réo rắt của người Mường đến thanh âm khèn bè trầm hùng của đồng bào Thái nơi biên viễn, những nhạc cụ mộc mạc trên mảnh đất xứ Thanh đã trải qua bao thế hệ, là sợi dây kết nối ký ức và kể câu chuyện văn hóa bản làng.

Ông Phạm Đình Hạnh (đội văn nghệ thôn Vân Hòa, xã Ngọc Lặc) trình diễn sáo ôi.
Giữa không gian bình yên của bản làng người Mường vùng đất Ngọc Lặc, chợt vang lên thanh âm dìu dặt, sâu lắng của tiếng sáo ôi. Tiếng sáo mảnh mai mà da diết len lỏi qua tàn cây mang theo hơi thở mộc mạc của núi rừng. Bảng lảng trong thanh âm ấy, dường như có bóng dáng của người mẹ, người bà bên nôi hát câu hát ru con trẻ, có những đêm trăng bản Mường rộn rã câu hát giao duyên nồng đượm nghĩa tình.
Tìm về thôn Vân Hòa (xã Ngọc Lặc), chúng tôi gặp ông Phạm Đình Hạnh, một người con bản Mường nặng lòng với âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Trong câu chuyện bên chén trà ấm, ông Hạnh nâng niu cây sáo ôi do chính tay mình chế tác rồi chậm rãi giải thích sự khác biệt độc đáo của nhạc cụ này. Khác với cây sáo trúc thông thường, sáo ôi của người Mường chỉ có bốn lỗ. Khi diễn tấu, người thổi phải điều tiết làn hơi thật khéo để hơi truyền xuyên qua một mắt ống sáo thì mới bật ra được âm thanh chuẩn xác. Người Mường xưa thường đặt sáo ôi ngay gần chỗ nằm để tiện lấy ra thổi mỗi khi trằn trọc, nhớ về người yêu hay hồi tưởng kỷ niệm thời trai trẻ.
Sáo ôi có thể dùng để độc tấu, vừa dùng làm nhạc đệm cho những làn điệu dân ca Mường truyền thống, hát đúm, hát ru. Không chỉ có sáo ôi, kho tàng nhạc cụ truyền thống ở của người Mường còn có cồng chiêng và đàn cò ke. Theo ông Hạnh, mỗi loại nhạc cụ đều mang một ý nghĩa riêng nhưng tựu trung đều gắn kết chặt chẽ với bản sắc dân ca, dân gian của dân tộc mình.
Niềm say mê lớn nhất của ông Phạm Đình Hạnh là được làm những nhạc cụ truyền thống theo đúng khuôn mẫu của cha ông đời xưa. Ông tâm sự, mỗi khi hoàn thiện một cây sáo ôi hay cây đàn cò ke, trong lòng lại dâng lên niềm hứng khởi bởi vốn quý của tổ tiên đã không mai một mà có thể truyền lại cho con cháu giữ gìn.
Rời Ngọc Lặc, chúng tôi ngược lên miền biên viễn Yên Khương, nơi những bản làng người Thái ẩn mình sau triền núi. Giữa không gian mênh mông ấy, tiếng khèn bè từ lâu đã trở thành linh hồn, như mạch nước ngầm trầm lắng nuôi dưỡng tâm hồn con người vùng cao. Trong đám cưới của người Thái, tiếng khèn bè luôn vang lên đầu tiên như lời chúc phúc cho đôi lứa gắn bó bền chặt như sợi mây rừng, cuộc sống ấm no, tròn đầy như mùa lúa mới. Khi tiếng khèn cất lên hòa cùng lời khặp, cả bản làng cùng nắm tay nhau múa hát, tạo nên bản hợp xướng của tình người và niềm kiêu hãnh dân tộc.
Tại bản Xắng Hằng (xã Yên Khương), già Lương Đại Thêm là người đã dành trọn cuộc đời gắn bó và giữ hồn cho cây khèn bè truyền thống. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa nghệ thuật, ngay từ thuở nhỏ, ông đã say mê tiếng khèn của ông, của cha trong bao mùa lễ hội. Năm mười sáu tuổi, ông bắt đầu được cha truyền nghề làm khèn. Ký ức về những buổi chiều hai cha con ngồi bên hiên nhà chọn từng ống nứa, chuốt từng sợi mây, nơi mùi nứa khô hòa quyện cùng mùi khói bếp đã trở thành hành trang để Lương Đại Thêm mang theo đi khắp các chiến trường. Với già Thêm, chế tác khèn bè không chỉ là kỹ thuật mà còn là nghệ thuật của sự nhẫn nại và tình yêu sâu sắc với văn hóa dân tộc mình. Ông cho biết, nguyên liệu làm khèn bắt buộc phải là nứa tép rừng có thân thẳng, ruột mỏng, được tuyển chọn và cắt vào mùa khô rồi đem phơi qua nắng, qua sương cho đạt đủ độ dẻo. Mỗi ống nứa là một nốt nhạc, là hơi thở của rừng già nên đôi tay của người nghệ nhân phải gọt giũa vô cùng tỉ mỉ, đôi tai phải nghe thật chính xác, bởi chỉ cần lệch một chút là âm khèn sẽ không còn giữ được độ tròn và trong trẻo. Giờ đây, khi đã bước sang tuổi xế chiều, mỗi khi hoàn thành một cây khèn mới, già Thêm lại cùng con trai song tấu khúc nhạc thiết tha. Tiếng khèn của hai cha con hòa vào nhau, một trầm, một bổng như cuộc đối thoại nối liền quá khứ với hiện tại để ngọn lửa văn hóa không bao giờ tắt.
Từ đại ngàn biên viễn Yên Khương đến các thôn bản vùng đất Ngọc Lặc, những người nghệ nhân nặng lòng với truyền thống như già Lương Đại Thêm hay ông Phạm Đình Hạnh vẫn đang lặng lẽ chế tác và truyền dạy khèn bè, sáo ôi, đàn cò ke cho thế hệ trẻ, để hồn cốt văn hóa bản làng xứ Thanh mãi ngân vang cùng năm tháng.
Bài và ảnh: Minh Quyên





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu