Làm nông “thời @”
Từ những thửa ruộng, trang trại vốn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và thời tiết, người nông dân đang từng bước làm quen với điện thoại thông minh, máy móc hiện đại, nền tảng số và các phương thức sản xuất mới. Làm nông "thời @” không chỉ là đưa công nghệ vào đồng ruộng, mà còn là sự thay đổi trong tư duy, cách tổ chức sản xuất và tiêu thụ nông sản.

Hộ dân xã Nga Sơn chăm sóc dưa Kim Hoàng hậu trong nhà màng theo tiêu chuẩn VietGAP.
Chăn nuôi truyền thống đã bộc lộ hạn chế trước áp lực dịch bệnh, biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng từ người tiêu dùng. Vì vậy, ngày càng nhiều trang trại được đầu tư máy móc hiện đại, áp dụng phương thức chăn nuôi không tiếp xúc... Anh Đặng Xuân Hùng, chủ trang trại chăn nuôi lợn xã Hoằng Tiến, cho biết: “Do tổng đàn lớn khoảng hơn 1.000 con cùng tình hình dịch bệnh phức tạp, tôi đã ứng dụng công nghệ số vào quy trình sản xuất để hạn chế người ra vào khu chăn nuôi. Trong chuồng, tôi lắp đặt camera giám sát; hệ thống cho ăn, cấp nước tự động; máy sát trùng tự động giúp phun dung dịch sát khuẩn mà không cần chạm tay, đảm bảo vệ sinh tối đa cùng hệ thống chiếu sáng thông minh. Nhờ có các loại máy móc hiện đại, tôi chỉ cần 1 đến 2 nhân công để kiểm tra máy móc, điều chỉnh thức ăn, nước uống, giám sát hoạt động của trang trại qua camera. Bên cạnh đó, nếu tôi có đi công việc ở xa, mọi thông số kết nối qua phần mềm cài đặt trên điện thoại nên vẫn quản lý được hoạt động của trang trại”. Việc triển khai các giải pháp số hóa đã giúp anh Hùng giảm chi phí sản xuất từ 7 đến 15%, nâng cao năng suất từ 10 đến 20%, đảm bảo môi trường chăn nuôi và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh.
Trong trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, người dân, HTX, doanh nghiệp còn mạnh dạn lắp đặt lưới cắt nắng, ứng dụng công nghệ loT trong các nhà màng, nhà lưới. Các mô hình nuôi tôm thẻ công nghệ cao được quản lý môi trường, lượng thức ăn... qua ứng dụng phần mềm trên điện thoại. Máy bay không người lái, máy móc cơ giới hóa được áp dụng tại các vùng trồng trọt tập trung... Từ đó, giúp tối ưu hóa quy trình canh tác, giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, minh bạch nguồn gốc để dễ dàng kết nối tiêu thụ.
Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, việc ứng dụng công nghệ số vào sản xuất vẫn còn nhiều bất cập, đầu tư chưa phù hợp với thực tế gây lãng phí nguồn lực. Theo ông Hoàng Đình Quế, Chủ tịch Hội Nông dân Thiệu Hóa: “Xã có khoảng 11ha sản xuất rau, quả trong nhà màng, 50ha lúa sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và 90ha lúa hữu cơ. Tuy nhiên, so với điều kiện sản xuất ở địa phương thì diện tích này còn hạn chế bởi việc áp dụng máy móc hiện đại thường cần vốn đầu tư khá lớn; quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ khiến thời gian sử dụng ít, chi phí khấu hao trên mỗi đơn vị sản phẩm sẽ cao. Vì vậy, không phải hộ nào cũng có khả năng đầu tư hoặc có thể thu hồi vốn nhanh. Một thực tế khác là thiếu lao động trẻ, đa số nông dân có tuổi đã quen với phương thức sản xuất truyền thống, ít có cơ hội tiếp cận, học cách vận hành trên điện thoại thông minh, máy tính và bảo dưỡng thiết bị...”.
Chị Mai Thị Tâm, xã Nga Sơn đang trồng dưa Kim Hoàng hậu cho biết: “Hiện nay, ngoài các vùng sản xuất tập trung hoặc trang trại quy mô lớn được doanh nghiệp, HTX bao tiêu sản phẩm thì hầu hết các sản phẩm của chúng tôi đều bán qua kênh truyền thống với giá phụ thuộc thị trường; chưa tương xứng với vốn đầu tư. Bên cạnh đó, một số hộ dân còn xuất hiện tâm lý chạy theo trào lưu mà chưa đánh giá điều kiện cụ thể, đầu tư không hiệu quả nên khi thị trường biến động hoặc gặp thiên tai, dịch bệnh, các hộ sản xuất này rất dễ đối mặt với nguy cơ thua lỗ”.
Xác định công nghệ số là xu thế phát triển nông nghiệp hiện đại, để tạo điều kiện cho người dân ứng dụng vào sản xuất, ngành nông nghiệp và môi trường đang tiếp tục xây dựng hệ thống dữ liệu, chuẩn hóa và tự động hóa quy trình sản xuất, quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm... hướng đến một nền nông nghiệp được cơ giới hóa đồng bộ. Các địa phương tạo điều kiện để người dân thích ứng với chuyển đổi số qua các lớp tập huấn; hỗ trợ người nông dân sử dụng thiết bị công nghệ thông tin; nâng cấp cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện cho việc tiếp cận và ứng dụng kỹ thuật số vào lĩnh vực nông nghiệp. Bên cạnh đó, chú trọng thu hút doanh nghiệp, HTX đầu tư vào nông nghiệp, thực hiện chuyển đổi số tạo ra quá trình sản xuất khép kín, đồng bộ và hình thành chuỗi liên kết sản xuất hàng hóa.
Bài và ảnh: Lê Ngọc





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu