Làng quê xứ Thanh qua những câu thành ngữ, tục ngữ
Chắt lọc từ mồ hôi đồng bãi, sóng gió cửa lạch và nếp ăn ở bao đời, tục ngữ, thành ngữ xứ Thanh như mạch nguồn bền bỉ bồi đắp căn cước quê hương. Lắng nghe từng câu chữ, ta không chỉ bắt gặp kinh nghiệm sống của tiền nhân mà còn thấy rõ cốt cách khảng khái, nặng nghĩa vẹn tình của người Thanh Hóa. Từ nguồn tư liệu điền dã phong phú tại Hội thảo khoa học “Nguyên tắc và tiêu chí lựa chọn thành ngữ, tục ngữ Thanh Hóa” (Trường Đại học Hồng Đức tổ chức), bức tranh làng quê xứ Thanh hiện lên thật sống động.

Hội thảo khoa học “Nguyên tắc và tiêu chí lựa chọn thành ngữ, tục ngữ Thanh Hóa”.
Xưa kia, nông dân xuống đồng hay ngư phủ ra khơi, được mất phần nhiều phó mặc cho thiên nhiên. Kinh nghiệm sống vì thế thành bí quyết để nương theo đất trời mà mưu sinh. Tại hội thảo, TS. Nguyễn Thị Dịu cho biết: Người xứ Thanh nhìn mây vần quanh đỉnh núi, đón hướng gió đổi chiều mà liệu bề cày cấy: “Cơn mưa đằng Nưa vác bừa mà chạy, cơn mưa đằng Vạy đừng chạy mất công”, “Mây che núi Đọ thì mưa”, “Qua Nấp, qua Nưa gặp mưa đừng chạy”. Về miền biển hay vùng cửa lạch Tĩnh Gia xưa, người bạn chài dặn nhau những câu nằm lòng: “Lạch Ghép khó vào, Lạch Trào khó ra”, "Gió bấc cá thu, sương mù cá nục” và “Mù sương lắm cá, hồng trời lắm moi”. Những kinh nghiệm ấy truyền từ đời này sang đời khác, ăn sâu bám rễ vào đời sống lao động.
Từ góc nhìn nghiên cứu văn hóa, nhà văn Trịnh Vĩnh Đức nhận định rằng địa danh xứ Thanh trong tục ngữ đã vượt khỏi chức năng định danh địa lý thuần túy để hóa thành các biểu tượng văn hóa. Nhắc đến tính người, dân gian có câu: “Mẹo mực Quảng Xương, văn chương Hoằng Hóa” hay “Đông Sơn Tứ Bôn, Hoằng Hóa Lưỡng Bột”. Qua những chuyến điền dã bền bỉ của nhà nghiên cứu Trần Thị Liên, dọc đôi bờ sông Mã, sông Chu, các làng nghề cổ truyền bước vào lời ăn tiếng nói thật tự nhiên: “Chè, Dị đúc nồi, núi Nhồi đục đá”, “Giấy làng Mơ, thơ Hoằng Hóa”, hay “Bồ Bất Căng, năng Kẻ Chè”. Những câu nói ấy vừa là lời ghi nhận, vừa là niềm kiêu hãnh của những người thợ tài hoa. Gắn liền với nếp làng là những thức quà quê mộc mạc, để ai đi xa chỉ nghe nhắc tên cũng thấy cồn cào nỗi nhớ: “Bánh chưng Cầu Hậu, cháo đậu Quán Rào”, “Bánh đúc Kẻ Go, bánh tày to Quán Lào”. Đậm đà và hóm hỉnh nhất phải kể đến câu: “Cá mè sông Mực chấm nước mắm Do Xuyên, chết xuống âm phủ còn muốn viền mút xương”.
Sống ở dải đất “chưa mưa đà thấm, chưa nắng đà khô”, người Thanh Hóa sớm tôi rèn bản lĩnh cứng cỏi, ăn sóng nói gió, ghét thói vòng vo, đãi bôi. Khi luận giải về tâm lý, tính cách người xứ Thanh, PGS.TS Hỏa Diệu Thúy chỉ ra rằng sự khắc nghiệt của thiên nhiên cùng lịch sử vùng đất “thang mộc” đã tạo nên lối diễn đạt dứt khoát, bộc trực. Tinh thần ấy thể hiện rõ trong những câu nói cửa miệng: “Lành làm gáo, vỡ làm môi”, “Nói như chặt ốc”, hay lời cha mẹ răn dạy con cái lúc trưởng thành: “Mặt nạc đóm dày, mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn”. Cách nói nghe qua có phần gai góc, thậm chí xẵng giọng, nhưng bên trong là sự bộc trực, khẳng khái. Và ẩn sau vẻ ngoài gồ ghề ấy lại là mạch ngầm đạo lý sâu lắng, gìn giữ sự thuận hòa cho nếp nhà, ngõ xóm: “Bên thẳng thì phải bên chùng, hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây”, “Ăn ví làng, ở ví xóm”, “Du là con, rể là khách”... Những lời răn mộc mạc, thấu tình đạt lý ấy đã giữ cho trong ấm ngoài êm, nhắc nhở con người biết nhường nhịn, yêu thương, giữ trọn cái nghĩa xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau.
Nhịp sống hiện đại đang khiến lớp từ Việt - Mường cổ như ló (lúa), tru (trâu), cấn, cằn, trôốc... vắng bóng dần, đẩy kho tàng tục ngữ quê nhà trước nguy cơ “nằm yên trong trang sách”. Nỗi lo mai một ấy là trăn trở tâm huyết được PGS.TS Phạm Văn Hảo, TS. Cao Xuân Hải, TS. Hoàng Bá Tường và nhà nghiên cứu văn hóa Mường Nguyễn Xuân Luật cùng gióng lên tại hội thảo. Việc gạn đục khơi trong, dày công điền dã để làm nên một cuốn “Từ điển giải thích tục ngữ, thành ngữ Thanh Hóa” chuẩn xác, khoa học là điều vô cùng cấp thiết. Nhưng điều cần hơn cả là làm sao để kho báu tinh thần ấy tiếp tục sống động giữa đời thường: hiện diện trong từng tiết học giáo dục địa phương của con trẻ, thấm đẫm vào từng trang thơ, hay tự nhiên cất lên trong bữa cơm sum họp.
Giữ lấy câu thành ngữ, tục ngữ quê hương chính là giữ lấy phần gốc rễ, cội nguồn và căn cước văn hóa của đất và người xứ Thanh. Bởi dẫu có đi đến chân trời góc bể, chỉ cần nghe một tiếng quê chân chất vang lên là lòng người đã thấy lối tìm về.
Bài và ảnh: Minh Quyên





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu