Biến áp lực thành động lực - thần tốc bứt phá
Giai đoạn 2021-2025, thế giới biến động với nhiều yếu tố vượt ngoài dự báo, kinh tế Việt Nam vẫn phục hồi kiên cường và vươn lên mạnh mẽ, duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới. Quan trọng hơn, không chỉ vượt qua những cú sốc lớn như đại dịch COVID-19, từng bước củng cố năng lực nội sinh, kinh tế Việt Nam đã khẳng định rõ rệt sức chống chịu và bản lĩnh trước các biến động bên ngoài.

Khu Kinh tế Nghi Sơn - một trong 8 khu công nghiệp ven biển trọng điểm của cả nước đang mạnh mẽ vươn mình.
Vượt “sóng lớn”...
Những năm đầu của thập niên 2020, kinh tế thế giới phải đối mặt với những biến động dữ dội mang tính lịch sử: đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xung đột địa chính trị lan rộng, cùng với những bất định về thương mại. Việt Nam, với độ mở lớn của nền kinh tế, từng được dự báo sẽ gánh chịu nhiều hệ quả nặng nề. Nhưng, thay vì bị cuốn trôi theo “sóng lớn”, vận dụng sức mạnh nội lực, kết hợp sức mạnh ngoại lực, nền kinh tế Việt Nam đã chống chịu thành công và bứt phá, vươn lên mạnh mẽ, duy trì đà tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới.

Giai đoạn 2021-2025 ghi dấu ấn đáng kể khi Việt Nam đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu; riêng trong hai năm 2024 và 2025, tất cả 15 chỉ tiêu đều được hoàn thành vượt kỳ vọng. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn này đạt khoảng 6,3% mỗi năm, vượt mục tiêu đề ra từ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2021-2025. Năm 2025, tăng trưởng kinh tế đạt trên 8%, thuộc tốp dẫn đầu khu vực ASEAN và thế giới, dù vẫn đang chịu ảnh hưởng những cú sốc từ bên ngoài.
Nhìn vào chiều rộng và chiều sâu của những con số này, có thể thấy Việt Nam không chỉ phục hồi sau khủng hoảng, mà còn tái cơ cấu và tăng tốc trong điều kiện khó khăn chưa từng có tiền lệ. Quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 510 tỷ USD vào năm 2025, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 32 trong bảng xếp hạng kinh tế thế giới. GDP bình quân đầu người gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao, vượt mục tiêu đề ra.
Trong bối cảnh xuất khẩu toàn cầu biến động và chính sách bảo hộ thương mại gia tăng, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn vượt mốc 900 tỷ USD, đưa tổng thương mại vào top 20 thế giới. Các chuỗi cung ứng, thị trường xuất nhập khẩu được đa dạng hóa. Hiện nay, nước ta có quan hệ thương mại với hơn 230 nền kinh tế và 34 thị trường xuất khẩu, 24 thị trường nhập khẩu có giá trị trên 1 tỷ USD. Điều này không chỉ phản ánh sức mạnh của nền kinh tế “mở”, mà còn là minh chứng cho năng lực thích ứng nhanh với những biến động phức tạp từ bên ngoài.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng. Công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển khá; tỷ lệ nội địa hóa được cải thiện. Nông nghiệp từng bước phát triển theo hướng sinh thái, xanh, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao. Khu vực dịch vụ, du lịch phục hồi và phát triển. Vốn đầu tư công cho các công trình trọng điểm quốc gia lan tỏa cao, kết nối vùng, liên vùng. Thể chế kinh tế đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt từ năm 2025, Việt Nam khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; bước đầu hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu du lịch gắn với chuỗi đô thị ven biển hình thành và phát triển mạnh; đã thành lập các khu thương mại tự do ở một số địa phương; bước đầu hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới, sáng tạo, khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn...
Có thể nói, khả năng chống chịu của nền kinh tế Việt Nam không đến từ yếu tố ngẫu nhiên, mà từ sự kết hợp giữa ổn định vĩ mô, chính sách linh hoạt, môi trường đầu tư ngày càng hấp dẫn và lực lượng doanh nghiệp năng động. Trong nhiệm kỳ, các điều kiện kinh doanh đã được cải thiện rõ rệt, thể chế trở nên thông thoáng hơn và các rào cản phi thị trường được tháo gỡ chủ động. Những cải cách này tạo ra môi trường thuận lợi để doanh nghiệp nội địa vững bước, đóng góp vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhiều tổ chức quốc tế uy tín như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Standard Chartered và Ngân hàng Thế giới (WB) đã đánh giá cao kết quả điều hành cũng như triển vọng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam. IMF xếp Việt Nam vào top 10 nền kinh tế tăng trưởng cao nhất thế giới; Standard Chartered dự báo Việt Nam thuộc nhóm 5 quốc gia tăng trưởng nhanh nhất châu Á; còn WB đưa Việt Nam vào 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật năm 2025.

Một góc Công ty CP Sữa Việt Nam - Nhà máy sữa Lam Sơn tại KCN Lễ Môn.
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 12, chiều 8/1, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi khẳng định: Xét trên phương diện kinh tế - tài chính, nền kinh tế Việt Nam đã và đang thể hiện năng lực thích ứng và phục hồi vững vàng trước các cú sốc lớn. Điều đó được tạo dựng từ kinh nghiệm điều hành, bản lĩnh vượt khó và khát vọng đổi mới không ngừng. Như Thủ tướng Phạm Minh Chính từng nhấn mạnh: “Mỗi khi có khó khăn, dân tộc ta, đất nước ta lại càng có bản lĩnh, kinh nghiệm để trỗi dậy, ứng phó hiệu quả hơn với thực tiễn. Hiện nay, đất nước ta đã trưởng thành hơn, đủ bản lĩnh để thích ứng linh hoạt, hiệu quả với mọi biến động của thế giới và khu vực”.
Chính nền tảng ấy đang trở thành yếu tố then chốt củng cố niềm tin của người dân, cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư; tạo động lực thúc đẩy tìm kiếm cơ hội mới, mở rộng sản xuất, kinh doanh, đóng góp thiết thực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn tới.
...đến khát vọng vươn mình
Nếu nhiệm kỳ vừa qua là thời kỳ “ứng phó” đầy chủ động với những tác động ngoại lai, thì hiện tại và sắp tới là giai đoạn mà Việt Nam đặt ra khát vọng không chỉ trỗi dậy mạnh mẽ hơn, mà còn vươn lên đột phá vượt chuẩn mực cũ của tăng trưởng. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 hướng tới tăng trưởng hai con số, kèm theo chuyển dịch mạnh mẽ sang các ngành và lĩnh vực có giá trị gia tăng cao; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%.
Mô hình tăng trưởng mới gắn với cơ cấu lại toàn diện nền kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính kỳ vọng được xác lập. Trọng tâm của mô hình này là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; từng bước hình thành phương thức sản xuất mới dựa trên kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh và phát triển bền vững.
Bốn trụ cột chuyển đổi lớn sẽ được xác lập gồm: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực. Đây không chỉ là những xu thế toàn cầu mà đã trở thành yêu cầu nội tại của quá trình phát triển, nhằm tạo ra sức sản xuất mới có hàm lượng tri thức cao hơn, giảm dần phụ thuộc vào lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên.

Những chuyến tàu cập Cảng Nghi Sơn, đưa hàng hóa xuất cảng đi ra thế giới.
Từ tư duy này, Việt Nam xác định rõ việc làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời hình thành những động lực tăng trưởng mới. Đó là phát triển các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị động lực và các đặc khu kinh tế thế hệ mới có sức lan tỏa khu vực và quốc tế. Không gian phát triển quốc gia được tổ chức lại theo hướng liên kết vùng chặt chẽ hơn, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng địa phương và từng vùng kinh tế.
Trong lĩnh vực công nghiệp, định hướng phát triển được mở rộng từ các ngành nền tảng như năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu mới, hóa chất... sang các ngành công nghiệp mới nổi mang tính chiến lược: bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot và tự động hóa, công nghiệp sinh học, công nghiệp môi trường, năng lượng tái tạo và năng lượng mới. Đồng thời, từng bước hình thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiện đại trên phạm vi vùng và liên vùng, tạo ra các chuỗi giá trị có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Nông nghiệp và kinh tế nông thôn cũng được đặt trong một tư duy phát triển mới, từ sản xuất đơn thuần sang kinh tế nông nghiệp xanh, sinh thái và tuần hoàn. Trọng tâm là phát triển các vùng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng mạnh khoa học - công nghệ và chuyển đổi số; gắn sản xuất với chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Ở khu vực dịch vụ, chiến lược phát triển nhấn mạnh tới nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh, hướng tới các loại hình dịch vụ có giá trị gia tăng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, logistics, thương mại điện tử, tài sản số. Việc hình thành các trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do thế hệ mới, trung tâm logistics lớn gắn với cảng biển và cảng hàng không trung chuyển quốc tế được kỳ vọng sẽ mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế.
Đồng thời, Việt Nam chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, phát thải thấp và có khả năng lan tỏa về công nghệ, quản trị, đào tạo nhân lực. Kết nối khu vực FDI với khu vực kinh tế trong nước được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, nhằm hình thành hệ sinh thái sản xuất - kinh doanh có chiều sâu và tăng tỷ lệ nội địa hóa trong chuỗi giá trị...
Những định hướng đó phản ánh một bước chuyển căn bản của kinh tế Việt Nam: từ tăng trưởng theo chiều rộng - dựa vào vốn và lao động sang tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ, kinh tế số và phát triển bền vững. Đây là sự thay đổi không chỉ về mô hình kinh tế, mà còn về tư duy phát triển, đòi hỏi những chính sách kiến tạo mạnh mẽ hơn, đồng bộ hơn và hướng tới năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia.
Dẫu vậy, chặng đường phía trước vẫn đặt ra không ít thách thức, khi khoảng cách về năng suất lao động của Việt Nam so với các nền kinh tế phát triển vẫn còn cao; yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sự chênh lệch giữa các vùng miền và sức ép ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu đang tạo ra những bài toán mới cho chiến lược phát triển. Nhưng, nhìn lại hành trình đã qua, có thể khẳng định Việt Nam không chỉ sở hữu bản lĩnh vượt khó, mà còn đang bồi đắp một ý chí vươn mình mạnh mẽ cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Và chính từ nền tảng ấy, khát vọng trên chặng đường mới không còn dừng lại ở những “tuyên ngôn”, mà đang dần trở thành động lực hành động, trở thành một chương trình phát triển cụ thể cho tương lai đất nước. Đó là tiền đề để chúng ta tiếp tục “biến không thành có”, “biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể” - bằng tư duy đổi mới, bằng bản lĩnh đã được tôi luyện qua thử thách, và bằng niềm tin vững chắc vào con đường phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc!
Bài và ảnh: Minh Hằng





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu