Những rào cản trong tự động hóa chăn nuôi
Trong bối cảnh chi phí lao động ngày càng tăng, yêu cầu về an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh ngày càng cao, việc đưa máy móc, thiết bị tự động vào chăn nuôi đang được người chăn nuôi quan tâm đầu tư. Tuy nhiên, quá trình này vẫn gặp không ít rào cản, từ quy mô sản xuất, nguồn vốn đầu tư đến trình độ tiếp cận công nghệ và khả năng vận hành thiết bị của người chăn nuôi.

Ông Trịnh Ngọc Tới, chủ trại chăn nuôi gia cầm ở xã Xuân Lập lắp đặt hệ thống cung cấp thức ăn, nước uống tự động.
Trang trại chăn nuôi gà của anh Trịnh Ngọc Tới (xã Xuân Lập) có 5 dãy chuồng nuôi với quy mô đàn 2 vạn con/lứa, nhưng chỉ cần 2 lao động đảm nhận từ khâu cho ăn đến vệ sinh chuồng trại. Kết quả này có được là nhờ việc anh đã mạnh dạn đầu tư hệ thống cung cấp thức ăn, nước uống tự động và hệ thống điều khiển nhiệt độ chuồng nuôi. Theo anh Tới: “Dây chuyền tự động giúp thức ăn không bị vương vãi, tiết kiệm chi phí và giảm đáng kể số lượng nhân công. Bên cạnh đó, chuồng trại khép kín giúp ngăn chặn mầm bệnh từ bên ngoài; giảm tiếp xúc trực tiếp giúp bảo vệ sức khỏe người nuôi cũng như hạn chế tình trạng xô đàn. Đồng thời, việc ổn định nhiệt độ chuồng nuôi là yếu tố rất quan trọng đối với gà. Bằng công nghệ tự động hóa, trong suốt quá trình nuôi, tôi có thể quản lý chuồng nuôi qua phần mềm kết nối với điện thoại để kịp thời nắm bắt và xử lý các tình huống có thể xảy ra. Chất thải còn được xử lý bằng men vi sinh vừa giảm phát thải ra môi trường vừa để làm phân bón hữu cơ”.
Phương pháp chăn nuôi theo hình thức công nghiệp kết hợp với ứng dụng khoa học - kỹ thuật đã nâng cao hiệu quả trong sản xuất, kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, cũng theo anh Tới, từ một mô hình chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi tự động không đơn giản là đầu tư máy móc mà đằng sau những thiết bị hiện đại là bài toán vốn, mặt bằng, hạ tầng, con người và cả tư duy sản xuất.
Cũng liên quan đến vấn đề này, ông Trịnh Xuân Đống, người chăn nuôi lợn ở xã Quý Lộc cho biết: “Dù đã có nhiều năm phát triển chăn nuôi, áp dụng khoa học - kỹ thuật nhưng tôi vẫn chưa thể đầu tư các loại máy móc hiện đại, bởi quy mô chuồng trại còn hạn chế. Nhất là, kinh phí xây dựng hệ thống đồng bộ từ chuồng trại, máng ăn, hệ thống cấp nước, thông gió, làm mát đến xử lý chất thải khá lớn, nếu đầu tư riêng lẻ từng thiết bị sẽ khó mang lại hiệu quả”.
Ông Nguyễn Hồng Phong, Phó Chủ tịch UBND xã Quý Lộc cho biết thêm: "Hầu hết các trang trại, gia trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh nói chung và xã Quý Lộc nói riêng có quy mô nhỏ lẻ, chưa đủ điều kiện để lắp đặt, vận hành máy móc hiện đại. Hạ tầng thiếu đồng bộ cũng là rào cản khiến người chăn nuôi chưa thể mạnh dạn đầu tư. Bên cạnh đó, trình độ kỹ thuật của người dân còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn trong sử dụng thiết bị, đọc dữ liệu và xử lý những tình huống phát sinh khi hệ thống gặp sự cố. Cùng với đó, ngoài các trang trại liên kết sản xuất với các doanh nghiệp thì hầu hết các hộ chăn nuôi tự tiêu thụ sản phẩm qua thương lái hoặc chợ truyền thống, đầu ra sản phẩm không ổn định cùng với rủi ro dịch bệnh luôn rình rập, nên người chăn nuôi có xu hướng duy trì phương thức sản xuất truyền thống thay vì mạo hiểm vay vốn để công nghệ hóa”.
Thực trạng đó dẫn đến việc tự động hóa trong chăn nuôi nông hộ còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, xác định đây là xu thế tất yếu để nâng cao năng suất và giá trị cạnh tranh, các địa phương hiện đang tập trung đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện hạ tầng nông thôn, khuyến khích các trang trại quy mô lớn tiên phong ứng dụng công nghệ số vào quy trình quản lý và vận hành. Bên cạnh đó, tạo điều kiện để người chăn nuôi tiếp cận vốn vay; tham gia các lớp tập huấn ứng dụng khoa học - kỹ thuật để từng bước tiếp cận công nghệ hiện đại. Đồng thời, tiếp tục triển khai các giải pháp tích tụ, tập trung đất đai, quy hoạch và đầu tư hạ tầng để hình thành các vùng chăn nuôi tập trung quy mô lớn, tạo điều kiện thuận lợi thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chăn nuôi. Tăng cường hợp tác, liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm để người dân yên tâm đầu tư máy móc hiện đại vào sản xuất góp phần hạn chế dịch bệnh, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
Bài và ảnh: Lê Ngọc





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu