Nghị quyết số 20-NQ/TW: Biến không gian mới thành động lực tăng trưởng lâu dài
Lợi thế để phát triển kinh tế biển của Việt Nam không chỉ nằm ở quy mô không gian biển mà còn ở khả năng hình thành nhiều trụ cột tăng trưởng trên cùng một không gian phát triển.

Nhiều địa phương ven biển ở Khánh Hòa đầu tư phát triển nhiều mô hình nuôi biển công nghệ cao.
Nghị quyết số 20-NQ/TW mở ra tầm nhìn chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh với mục tiêu các tỉnh thành ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước đến năm 2030.
Trước yêu cầu đô thị hóa nhanh đòi hỏi phải tìm kiếm những không gian phát triển mới, Luật Phát triển đô thị 2026 được thông qua với cơ chế cho các dự án lấn biển - được kỳ vọng sẽ mở rộng không gian phát triển, kiến tạo các cực tăng trưởng mới và biến tiềm năng kinh tế biển thành động lực bứt phá lâu dài.
Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã xác định mục tiêu đến năm 2030, kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao. Theo đó, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước; thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển cao hơn 1,2-1,3 lần mức bình quân cả nước. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của các địa phương ven biển phấn đấu đạt trên 11%/năm.
Đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị hiện đại, khoa học công nghệ tiên tiến. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vùng biển, đảo được nâng cao toàn diện.
Trên thực tế, nhận thức rõ tiềm năng và vai trò của kinh tế biển đối với phát triển kinh tế-xã hội, Đảng và Nhà nước đã sớm đề ra các định hướng phát triển kinh tế biển, ven biển. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V năm 1982, kinh tế biển đã được xác định là một trọng tâm phát triển. Quan điểm này tiếp tục được cụ thể hóa qua các kỳ đại hội và đặc biệt tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045."
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển, với hơn 3.260 km bờ biển, trên 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế và hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ. Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển; trong đó có nuôi biển công nghiệp, qua đó hình thành động lực mới cho kinh tế biển và xuất khẩu thủy sản.
Lợi thế của Việt Nam không chỉ nằm ở quy mô không gian biển mà còn ở khả năng hình thành nhiều trụ cột tăng trưởng trên cùng một không gian phát triển. Dải ven biển kéo dài tạo điều kiện phát triển hệ thống đô thị biển, cảng biển, trung tâm logistics, du lịch và các ngành dịch vụ gắn với biển. Cùng với đó, vùng biển rộng và hệ thống đảo phong phú mở ra dư địa cho nuôi biển công nghiệp, khai thác và chế biến thủy sản, phát triển các hoạt động kinh tế gắn với tài nguyên và hệ sinh thái biển.
Đặc biệt, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước hiện có 21/34 tỉnh, thành phố giáp biển. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh, với không gian biển mở rộng từ Cần Giờ đến Côn Đảo, có dư địa lớn để phát triển kinh tế biển, từ cảng biển, logistics, du lịch đến nuôi biển công nghiệp.
Mặc dù có nhiều lợi thế, song theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, Việt Nam vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, cơ hội từ kinh tế biển. Không gian phát triển tại nhiều khu vực ven biển còn thiếu tính liên kết; hạ tầng, dịch vụ hậu cần, đô thị và các ngành kinh tế biển chưa hình thành được hệ sinh thái đồng bộ để tạo ra giá trị gia tăng cao. Trong khi đó, quá trình đô thị hóa nhanh, nhu cầu về quỹ đất cho phát triển hạ tầng, dịch vụ, du lịch, logistics và các trung tâm kinh tế mới ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm những không gian phát triển mới.
Nghị quyết số 20-NQ/TW cũng chỉ rõ, nhận thức về vị trí, vai trò của biển và yêu cầu xây dựng, phát triển quốc gia biển mạnh có lúc, có nơi còn chưa đầy đủ; thể chế, chính sách thiếu đồng bộ khiến kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Cùng với đó, việc quy hoạch không gian biển còn nhiều bất cập, mô hình quản lý tổng hợp, thống nhất chưa hoàn thiện...
Trong bối cảnh đó, Quốc hội vừa thông qua Luật Phát triển đô thị năm 2026 (Luật số 18/2026/QH16); trong đó, bổ sung một điều (Điều 19) trong Mục 3 về phát triển kinh tế của Chương II về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt, để quy định riêng về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển khu đô thị lấn biển.

Hoạt động xếp dỡ hàng hóa tại Chi nhánh Cảng Tân Vũ, Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, đặc thù của loại dự án này là hình thành một khu vực lấn biển chưa tồn tại trên thực tế để phát triển đô thị; đồng thời, đây là những dự án có quy mô rất lớn, thời gian thực hiện dài, nhu cầu nguyên vật liệu phục vụ san lấp và xây dựng lớn.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cũng cho rằng, phát triển khu đô thị lấn biển không chỉ tạo thêm quỹ đất mà còn mở rộng không gian phát triển, hình thành các cực tăng trưởng mới gắn với biển. Với lợi thế hơn 3.260 km bờ biển nhưng quỹ đất ven biển tại các đô thị lớn ngày càng hạn hẹp, các dự án đô thị lấn biển có thể trở thành động lực thu hút nhà đầu tư chiến lược, nguồn vốn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, quá trình này phải đi đôi với quản lý chặt chẽ tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Ở góc nhìn chuyên gia, Tiến sỹ Cấn Văn Lực cho rằng lấn biển cần được nhìn nhận như một hướng mở để tạo dư địa và không gian phát triển mới, qua đó thúc đẩy và đa dạng hóa nền kinh tế. Nếu được quy hoạch bài bản, khu vực lấn biển có thể tích hợp nhiều chức năng có giá trị gia tăng cao như trung tâm tài chính, kinh tế số, du lịch, dịch vụ và các công trình biểu tượng. Khi thu hút được các nhà đầu tư lớn, nguồn vốn trong và ngoài nước sẽ được huy động, tạo thêm việc làm và đóng góp vào tăng thu ngân sách. Vì vậy, hiệu quả của lấn biển không nên chỉ được đánh giá ở diện tích đất tạo thêm, mà quan trọng hơn là khả năng biến quỹ đất và không gian mới thành động lực tăng trưởng kinh tế lâu dài.





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu