“Kiên định một hành trình vì dân” (Bài 2): “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm”
Một buổi sáng tháng tám, chúng tôi tìm về Di tích cách mạng, nhà lưu niệm đồng chí Lê Chủ, làng Yên Lộ, xã Thiệu Tiến. Trong không gian trầm mặc, những hiện vật giản dị gợi nhớ mùa thu năm 1945, khi Nhân dân Thanh Hóa cùng cả nước đứng lên giành chính quyền.
Di tích cách mạng, nhà lưu niệm đồng chí Lê Chủ, thôn Yên Lộ, xã Thiệu Tiến.
Đồng chí Lê Chủ, tên khai sinh Lê Tiến Nhiễu, sinh năm 1902 tại làng Yên Lộ, tổng Phù Chẩn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Thiệu Tiến, tỉnh Thanh Hóa). Đồng chí là một trong những cán bộ tiêu biểu đã góp phần tổ chức, xây dựng Đảng bộ tỉnh, lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công tại Thanh Hóa. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Lê Chủ được tín nhiệm bầu làm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh khóa 1. Dù đảm nhiệm cương vị nào, đồng chí vẫn giữ trọn phẩm chất của người cán bộ cách mạng: gần dân, trọng dân, hiểu dân và hết lòng vì dân.
Lần giở những ký ức của gia đình, ông Lê Hùng Xô, cháu ruột đồng chí Lê Chủ, xúc động kể rằng: Năm 1964, sau khi nghỉ hưu, bác tôi vẫn nhận lời hỗ trợ Ủy ban Nông nghiệp tỉnh và HTX Yên Lộ, xã Thiệu Vũ cũ, nay là xã Thiệu Toán. Dù tuổi đã cao, có hôm trời mưa rét, bác vẫn lội xuống đồng cùng bà con, hướng dẫn chăm sóc cây trồng, động viên nông dân hăng say lao động sản xuất. Đến những ngày cuối đời, ông vẫn căn dặn con cháu phải giữ vững lý tưởng cách mạng, sống theo tư tưởng của Bác Hồ và luôn nghĩ đến Nhân dân trước hết.
Câu chuyện về đồng chí Lê Chủ phần nào khắc họa phẩm chất của lớp cán bộ cách mạng đầu tiên - những người xem phụng sự Nhân dân là lẽ sống.
Từ chống đói, chống dốt đến gây dựng lòng dân
Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng ra đời trong bối cảnh đất nước đứng trước muôn vàn thử thách. Nền kinh tế kiệt quệ, hơn hai triệu người chết đói ở miền Bắc, ngân khố quốc gia gần như trống rỗng, hơn 90% dân số mù chữ. Trong khi đó, các thế lực thù địch vẫn ráo riết tìm cách lật đổ chính quyền non trẻ. Giữa bộn bề khó khăn ấy, điều đầu tiên mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn không phải là củng cố đặc quyền cho bộ máy, mà là chăm lo đời sống của Nhân dân. Người nhiều lần khẳng định cán bộ là “công bộc của dân”, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Tư tưởng ấy trở thành phương châm hành động của bộ máy chính quyền cách mạng từ Trung ương đến cơ sở.

Ông Nguyễn Văn Thát, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa giai đoạn (1988-1999).
Tại Thanh Hóa, tư tưởng ấy nhanh chóng được cụ thể hóa bằng những hành động thiết thực. Tỉnh ủy và chính quyền cách mạng phát động phong trào tăng gia sản xuất, vận động Nhân dân khai hoang, phục hóa, tận dụng mọi diện tích đất canh tác; tổ chức các tổ đổi công, chia sẻ giống, nông cụ và ngày công lao động. Các phong trào “Hũ gạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm” lan tỏa sâu rộng, góp phần huy động hơn một nghìn tấn gạo cứu đói trong tỉnh và hỗ trợ nhiều địa phương khác. Song song với đó, phong trào Bình dân học vụ được triển khai rộng khắp; cán bộ, đảng viên trực tiếp vận động và dạy chữ cho người dân, từng bước nâng cao dân trí và củng cố niềm tin vào chính quyền cách mạng.
Theo nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Tấn, Tổng Thư ký Hội Khoa học lịch sử tỉnh Thanh Hóa, một trong những vận dụng sáng tạo của Đảng bộ Thanh Hóa ngay sau Cách mạng Tháng Tám là biết trọng dụng, tập hợp đội ngũ trí thức yêu nước tham gia xây dựng chính quyền cách mạng.
Ông nhấn mạnh: "Sau khi giành chính quyền, hơn 90% người dân còn mù chữ. Nếu chỉ dựa vào lực lượng bần cố nông thì rất khó vận hành bộ máy nhà nước non trẻ. Vì vậy, Đảng bộ Thanh Hóa đã tranh thủ những người có học, những trí thức yêu nước, kể cả những người từng làm việc trong bộ máy cũ nhưng có tinh thần dân tộc, tham gia chính quyền từ tỉnh đến cơ sở. Trong quá trình công tác, họ được rèn luyện, bồi dưỡng, kết nạp vào Đảng và trở thành những cán bộ cách mạng.
Sự gần dân, trọng dân, biết quy tụ sức dân và người tài đã giúp chính quyền cách mạng Thanh Hóa từng bước vượt qua những thử thách đầu tiên. Tinh thần ấy tiếp tục được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành chuẩn mực trong tư duy và hành động của đội ngũ cán bộ Thanh Hóa.
Ngọn lửa vì dân được truyền qua nhiều thế hệ
Đã gần 90 tuổi, ông Nguyễn Văn Thát, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa giai đoạn (1988-1999), vẫn nhớ rõ những quyết định táo bạo khi ông giữ cương vị Bí thư Huyện ủy Quảng Xương giai đoạn (1977-1983). Trước thực trạng mô hình chăn nuôi tập trung hoạt động kém hiệu quả, trong khi nhiều hộ dân có điều kiện chăm sóc tốt hơn nhưng cơ chế quản lý cũ chưa tạo điều kiện để người dân phát huy khả năng, ông Nguyễn Văn Thát cùng tập thể lãnh đạo huyện Quảng Xương (cũ) mạnh dạn chuyển đàn lợn tập thể về giao cho các hộ dân trực tiếp chăm sóc; đồng thời tổ chức tập huấn kỹ thuật, phân công cán bộ bám cơ sở, hướng dẫn từng hộ thực hiện đúng quy trình. Đó không chỉ là sự thay đổi về phương thức chăn nuôi mà còn thể hiện một bước chuyển trong tư duy quản lý: tạo điều kiện để người dân phát huy năng lực, còn Nhà nước giữ vai trò hướng dẫn, hỗ trợ và kiểm tra. Từ tháng 3 đến tháng 9/1978, đàn lợn của huyện đã tăng lên 13.200 con, gấp 5 lần so với năm 1977. Quảng Xương trở thành điểm sáng của tỉnh Thanh Hóa. Mô hình được nhiều đoàn công tác của Trung ương và Bộ Nông nghiệp về khảo sát, đánh giá cao và nghiên cứu nhân rộng.
Tinh thần đặt lợi ích của Nhân dân lên trước còn được thể hiện trong câu chuyện của ông Lê Xuân Lối, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Thiệu Toán giai đoạn 1990-2005. Năm nay tuổi 81, ông Lê Xuân Lối vẫn luôn tâm niệm: “Đã làm cán bộ thì phải luôn trông lên để học cái hay của người khác, nhưng cũng phải trông xuống để thấy dân còn khó khăn mà phục vụ”. Phải gần dân, sát dân, đặt quyền lợi của Nhân dân lên trên hết, trước hết”.

Ông Lê Xuân Lối (trong cùng) giới thiệu về di tích lịch sử cơ sở cách mạng của "Xứ ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Đảng bộ Thanh Hóa giai đoạn 1930-1945 - tại nhà ông Lê Huy Toán, xã Thiệu Toán.
Nhớ lại những năm tháng công tác, ông Lối kể: "Thời điểm tôi làm Bí thư Đảng ủy xã, đời sống của bà con còn nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào các giống truyền thống nên năng suất chưa cao. Khi có chủ trương đưa giống ngô lai, lúa lai vào sản xuất, chúng tôi xác định muốn dân tin thì cán bộ phải làm trước để dân thấy hiệu quả rồi mới vận động bà con làm theo. Có như vậy dân mới tin, mới đồng thuận”.
Có thể thấy, từ những năm tháng đấu tranh giành chính quyền, qua các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đến thời kỳ hòa bình, đổi mới và phát triển, dù ở cấp tỉnh hay cơ sở, người cán bộ vẫn luôn lấy cuộc sống của Nhân dân làm thước đo hiệu quả công việc. Chính tinh thần ấy đã góp phần giúp Thanh Hóa vượt qua nhiều giai đoạn khó khăn, tạo nền tảng cho sự phát triển hôm nay. Đặc biệt, kể từ khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, yêu cầu đặt ra không chỉ là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn phải phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn.
Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, nhấn mạnh: “Phải lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo thực chất, là tiêu chí cuối cùng để đánh giá thành công của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”.
Hơn tám mươi năm sau ngày lập quốc, đất nước đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, bộ máy chính quyền ngày càng được đổi mới theo hướng hiện đại, nhưng tinh thần vì dân vẫn còn nguyên giá trị như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Từ những chuyển động cụ thể ở cơ sở, diện mạo một nền hành chính phục vụ, gần dân, sát dân và vì dân đang ngày càng rõ nét.
Bài và ảnh: Hoàng Mai





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu