Dòng họ vinh hiển trên đất Cổ Bôn xưa
Trên đất Cổ Bôn xưa, họ La không chỉ được biết đến là dòng họ có nhiều dấu ấn trong lập dựng, phát triển, góp phần tạo sự phồn thịnh quê hương. Đó còn là dòng họ vinh hiển với những bậc công thần, tiếng thơm truyền hậu thế.

Người họ La ở Cổ Bôn luôn chú trọng việc gìn giữ, tiếp nối truyền thống gia tộc. Ảnh: Khánh Lộc
Từ Bái Hà, Hoa Thị đến làng Ngọc Đôi
Trên đất Cổ Bôn xưa (trước đây là xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn cũ, nay thuộc phường Đông Tiến), người họ La đã đến đây gây dựng cơ nghiệp tại làng Ngọc Đôi (nay là tổ dân phố Ngọc Tích) cách ngày nay khoảng 500 năm.
Dẫn chúng tôi vào bên trong di tích, thắp nén tâm hương tưởng nhớ tiền nhân, ông La Đức Thuyết, trưởng chi 2 dòng họ La, chậm rãi cất tiếng: “Văn khoa bảng, võ công hầu, tiền thử dã áp lãng phong thần, quốc sự, dân sùng, danh vọng cửu/ Tổ Bái Hà, tôn Hoa Thị, trung gian hựu Ngọc Đôi tiếp phúc, kim hoa tích thụ, bản chi trường” (đại ý: Văn khoa bảng, võ công hầu, đè sóng cưỡi thuyền, tiền nhân đời trước được phong thần, còn rõ rệt/ Gốc Bái Hà, cây Hoa Thị, lá ngọc cành vàng, Ngọc Đôi ngày nay luôn tiếp phúc, vẫn dài lâu”. Rồi ông cho biết: “Chỉ trong đôi câu đối cổ ấy mà đã “gom nhặt” đủ hết tất cả, từ cội nguồn dòng họ La thuở xa xưa, sự vinh hiển, rạng rỡ trong lịch sử, truyền thống còn được tiếp nối đến ngày nay”.
Họ La ở Cổ Bôn có gốc tổ từ đất Bái Hà, Hoa Thị (thuộc huyện Hậu Lộc cũ). Thủy tổ là đạo sĩ La Viện, vị “Áp lãng chân nhân” đi vào truyền thuyết dân gian vì đã có công dẹp sóng dữ ở cửa biển Thần Phù (thuộc huyện Nga Sơn cũ), giúp cho chiến thuyền nhà vua vượt qua khó khăn trên đường chinh phạt phương Nam.
Đến thế kỷ XVI, vì nhiều biến động lịch sử, người họ La đã di cư đến làng Ngọc Đôi (tức Ngọc Tích) thuộc Cổ Bôn (Tứ Bôn). Theo ghi chép trong gia phả và lưu truyền trong dòng họ, bấy giờ sau khi nhà Mạc chiếm ngôi vua Lê, tiền nhân họ La bấy giờ đã theo ngọn cờ “phù Lê, diệt Mạc”. Sau đó, để đề phòng nhà Mạc trả thù, nên người họ La đã di dời mộ phần ông cha về ẩn táng (tức chôn sâu dưới lòng đất, ở trên bằng phẳng) ở làng Ngọc Đôi, gọi là “cồn Tráo”. Về sau, khi sự nghiệp Trung hưng nhà Lê thành công, vua Lê đã ban phong khu đất rộng lớn “3 mẫu 8 sào” ở cồn Tráo làm nơi yên nghỉ cho con cháu dòng họ La.
Các vị Quận công
Tiền nhân La Đức Hà được biết đến là khởi thủy dòng họ La ở đất Cổ Bôn. Bấy giờ, vào đầu thời Lê Trung hưng. Với tài năng võ nghệ, tướng quân La Đức Hà đã dốc sức cùng với các tướng sĩ “phù Lê, diệt Mạc”. Bởi lập nhiều công lao, tận trung báo quốc, vâng lệnh vua phá giặc nơi trận tiền, về sau ông được triều đình ban sắc vinh phong “Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Thần vũ tứ vệ quân vụ sự, Tham đốc trụ quốc Mỹ Quận công” (bản sắc phong niên hiệu Đức Long đời vua Lê Thần Tông).
Tiếp nối công trạng hiển hách từ Mỹ Quận công La Đức Hà, người con trai là La Đức Trang cũng là vị dũng tướng có công trong sự nghiệp Trung hưng nhà Lê và thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh về sau. Theo La tộc thế phả, do có nhiều công lao trong tiễu trừ bọn cuồng khấu ở Thuận Quảng nên cụ được vua Lê Thần Tông niên hiệu Thịnh Đức phong sắc Trì uy tướng quân, Kim ngô vệ kỳ bài, Đô chỉ huy sứ, Tư Đô chỉ huy đồng tri, Thọ Vinh bá; sau đó, do lập được công lớn nên đã được thăng ba cấp, làm Hoài viễn tướng quân, Cẩm y vệ, Đô chỉ huy sứ, Tư Đô chỉ huy thiêm sự, Thọ Vinh hầu. Về sau được phong tước Dũng Quận công.
Đến nay, nhắc đến công lao của Dũng Quận công La Đức Trang, trong dòng họ còn lưu đôi câu đối cổ: “Quận công tập tước tam chi đại/ Quốc trụ liên danh vạn cổ hương” (Quận công nối nghiệp ba chi lớn/ Trụ quốc danh thơm mãi vạn năm”. Nhà thờ cụ đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh: Đền thờ các Quận công họ La.
Làm tướng theo Định Nam vương Trịnh Căn đi đánh dẹp ở Đàng Trong, một người con khác của dòng họ La ở làng Ngọc Đôi là La Đức Ninh cũng lập nên nghiệp lớn từ những uy dũng nơi chiến trường. Theo ghi chép và sắc phong còn lưu giữ, một trong những chiến công của tướng quân La Đức Ninh là đánh dẹp phản loạn ở đất Thiên Lộc (thuộc huyện Can Lộc (cũ), tỉnh Hà Tĩnh). Về sau, ông được vua sắc phong: Kiệt trung tướng quân, Chỉ huy sứ Tư Đô Chỉ huy thiêm sự, Cẩm y vệ kỳ bài, Thiết kỵ úy, Bá Lăng hầu, phong tước Hùng Quận công.
Ông La Đức Mậu, hậu duệ dòng họ La, chia sẻ: “Dòng họ La đến làng Ngọc Đôi (tức Ngọc Tích) đất Cổ Bôn vào đầu thời Lê Trung hưng, đây cũng là giai đoạn gắn liền với sự vinh hiển của dòng họ La. Các vị Quận công của dòng họ, từ Mỹ Quận công La Đức Hà đến Dũng Quận công La Đức Trang, rồi Hùng Quận công La Đức Ninh đều sống, làm quan, lập được chiến công hiển hách trong giai đoạn lịch sử nhiều biến động, “phù Lê diệt Mạc” và Trịnh - Nguyễn phân tranh. Ngày nay, mộ phần các cụ đều yên nghỉ ở khu vực cồn Tráo. Có một điều đặc biệt, dù sử liệu nhắc đến các cụ không nhiều, những ghi chép về năm sinh, năm mất của các cụ cũng không thực chi tiết, song sắc phong vua ban lại ghi chép rất rõ về công trạng hiển hách của các vị Quận công dòng họ La”.
Thêm một điều đặc biệt, dòng họ La ở đất Cổ Bôn chọn ngày Thanh minh và Đông chí hằng năm làm lễ tế tổ, tưởng nhớ tiền nhân. “Đã trở thành truyền thống, cứ vào dịp Thanh Minh (mùa xuân) và Đông chí (cuối năm), người họ La lại tề tựu để làm lễ tế tổ, tưởng nhớ và tri ân công đức ông cha. Lễ tế tổ thường diễn ra tại khu mộ của dòng họ ở cồn Tráo và nhà thờ các chi. Không nặng nề về lễ vật dâng cúng, mà cốt ở tấm lòng thành kính của con cháu. Lễ tế tổ là một nét đẹp văn hóa lâu đời của dòng họ La ở Cổ Bôn” - ông La Đức Thuyết, cho biết.
Từ niềm tự hào, dòng họ La ở đất Cổ Bôn ngày nay còn chú trọng công tác khuyến học, khuyến tài. “Giải thưởng La Tu” được thành lập và duy trì qua nhiều năm đã phát huy ý nghĩa, để con cháu tiếp nối truyền thống ông cha.
Khánh Lộc
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Lịch sử Đảng bộ xã Đông Thanh, NXB Thanh Hóa, 2008; tài liệu La tộc thế phả).





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu