An Đô vương Trịnh Cương

(Baothanhhoa.vn) - Ông là chắt của Chiêu tổ Khang vương Trịnh Căn, vì thế việc ông nối nghiệp họ Trịnh là “sự lựa chọn” của số phận. Trong 20 năm chúa Trịnh Cương nắm giữ quyền lực, với tài năng quản trị, ông đã giữ cho đất nước thái bình, phát triển, người dân Đàng Ngoài tránh khỏi khói lửa binh đao.

An Đô vương Trịnh Cương

Ông là chắt của Chiêu tổ Khang vương Trịnh Căn, vì thế việc ông nối nghiệp họ Trịnh là “sự lựa chọn” của số phận. Trong 20 năm chúa Trịnh Cương nắm giữ quyền lực, với tài năng quản trị, ông đã giữ cho đất nước thái bình, phát triển, người dân Đàng Ngoài tránh khỏi khói lửa binh đao.

An Đô vương Trịnh Cương

Khu Di tích phủ Trịnh, xã Biện Thượng, tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Khánh Lộc

Theo sử sách, năm 1674 con trai trưởng của chúa Trịnh Căn là Trịnh Vịnh (có tài liệu viết là Trịnh Vĩnh) qua đời. Do người con trưởng của Lương Mục vương Trịnh Vịnh tuổi còn nhỏ nên người chú là Trịnh Bách (con trai thứ của chúa Trịnh Căn) được chọn làm người kế vị. Nhưng rồi, Tiết chế Trịnh Bách cũng qua đời sau đó vài năm. Khi ấy, người con trai trưởng của Lương Mục vương Trịnh Vịnh là Trịnh Bính đã trưởng thành, được phong Phó Đô tướng Thái úy Tấn Quận công, sau đó lại được phong Khâm sai Tiết chế các xứ thủy, mọi dinh kiêm Tổng quyền chính hàm Thái úy tước Tấn Quốc công, mở phủ Dực quốc. Nhưng rồi, số phận như một sự thử thách với cơ nghiệp họ Trịnh, năm 1702 Thái úy Trịnh Bính qua đời - ông được truy phong Tấn Quang vương.

Sau khi Tiết chế Trịnh Bính qua đời, cơ nghiệp các đời chúa Trịnh gây dựng lại một lần nữa chông chênh khi chưa có người kế vị, trong khi đó chúa Trịnh Căn tuổi ngày một cao. Chọn người nối nghiệp chúa là việc lớn của nước nhà nên Khang vương Trịnh Căn bèn vời các trọng thần có uy tín vào hỏi. Lại bộ Tả Thị lang Nguyễn Quý Đức thưa: “Việc vỗ dân giữ nước là trách nhiệm nặng nề, nên cho thuộc về người chắt (tằng tôn) là dòng đích. Xét theo điển lễ việc đó là rõ rệt rồi. Vậy xin sớm làm cho danh phận được chính xác để chấm dứt những sự ngấp nghé nom dòm”... Thận trọng trong việc chọn người nối nghiệp, Khang vương hỏi đi hỏi lại mấy lần, lại nghe ngóng dư luận rồi mới đi đến quyết định chọn Trịnh Cương, chắt đích (tằng tôn) là người nối nghiệp chúa” (sách Nhân vương Trịnh Cương).

Trước đó, khi cha là Tấn Quang vương Trịnh Bính qua đời, Trịnh Cương tuổi còn nhỏ đã được nuôi dưỡng trong vương phủ, lại được chúa Trịnh Căn tìm những thầy giỏi dạy dỗ nghiêm khắc. Tư chất vốn thông minh, lại được theo học những người thầy uy tín, nhờ đó Trịnh Cương càng lớn càng tỏ rõ phẩm chất của người nối nghiệp. Năm 1709, Trịnh Cương được vua Lê tấn phong Nguyên soái Tổng Quốc chính An Đô vương, chính thức nối nghiệp chúa Trịnh.

Về chúa Trịnh Cương, sách Mười hai đời chúa Trịnh và Lễ hội phủ Trịnh viết: “Ngài là vị chúa cần mẫn siêng năng, chăm lo việc nước. Hàng ngày cùng quan tham tướng Nguyễn Công Hãng bàn việc từ đầu canh năm đến mặt trời lặn mới thôi. Phàm các công việc như việc binh, việc hình, việc học, việc hộ, việc dịch lộ, việc phẩm phục, thuế ruộng, thuế muối... cho đến lễ nhạc, nhà tông miếu, Nhân vương Trịnh Cương đều sửa đổi đầy đủ. Ngài là người tiếp nối gia đạo tổ tiên, làm cho thiên hạ thái bình thịnh vượng”.

Ngay khi vừa kế nghiệp, chúa Trịnh Cương đã có dụ: “Điều chủ yếu trong việc chính trị là cốt làm cho giáo hóa được sáng tỏ”. Vì thế, ngài chọn cải cách giáo dục, đổi mới thi cử, tuyển chọn nhân tài. Ở mỗi phủ ngài cho lập trường học, “cho phép hiệu quan được cư trú ở ngay trường học để làm việc giáo huấn”, cấp ruộng cho các trường, tùy theo quy mô mà ruộng cấp cũng khác nhau; thay đổi phép khảo hạch để học trò nghèo có điều kiện tham gia thi cử, rộng cầu hiền tài cho đất nước. Với những bậc hiền tài đỗ đạt được chú trọng đãi ngộ, bổ dụng.

Trong thời gian nắm giữ quyền lực, chúa Trịnh Cương quan tâm đến việc sửa sang Quốc Tử Giám, dựng bia tiến sĩ. “Khoảng năm Bính Thân (1716) khi đến Quốc Tử Giám, An vương trước thăm nhà Thái học, bái yết tiên thánh; sau xem bia đá đề tên tiến sĩ mọi khoa. Thấy nhiều khoa chưa lập dựng bia, An vương lệnh cho bộ Công chọn đá, Hàn lâm viện soạn văn, giao cho Tham tụng lại bộ Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ, Thiếu phó, Liêm Quận công Nguyễn Quý Đức trông nom dựng các bia còn thiếu từ khoa Bính Thân (1656) đến khoa Ất Mùi (1715) tất cả gồm 21 bia. Đó là đợt dựng bia lớn thứ nhì trong lịch sử dựng bia ở Văn Miếu” (sách Nhân vương Trịnh Cương).

Cùng với đó, chúa Trịnh Cương còn chú trọng cải cách hình luật - xét xử với chủ trương “sao cho việc kiện cáo và hình ngục được giảm bớt”; cải cách bộ máy điều hành chính sự quốc gia, xây dựng lại bản đồ đất nước. Với tài ngoại giao vừa khôn khéo và không kém phần cương quyết đã khiến cho nhà Thanh ở phương Bắc trả lại đất trước đó đã xâm chiếm.

Đặc biệt, dưới thời chúa Trịnh Cương, việc buôn bán với nước ngoài và giao thương trong nước phát triển mạnh, hình thành các trung tâm thương mại lớn như Kẻ Chợ, Phố Hiến... thúc đẩy làng nghề phát triển.

Trong 20 năm chúa Trịnh Cương nắm giữ quyền lực cũng là khoảng thời gian quân đội Đàng Ngoài hùng mạnh khiến cho nước lớn nể trọng không xâm chiếm, nước nhỏ hòa hiếu, cuộc nội chiến với Đàng Trong cũng tạm yên... từ đó đem lại thái bình cho đất nước, người dân yên ổn làm ăn.

Về chúa Trịnh Cương, học giả Trần Trọng Kim, tác giả sách Việt Nam sử lược đánh giá ngắn gọn mà đầy đủ: “Về thời Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương làm chúa, thì ông nào cũng hết lòng lo việc trị dân và lại nhờ có những người tôi giỏi như Phạm Công Trứ, Nguyễn Công Hãng... hết sức giúp đỡ, cho nên sửa sang được nhiều việc, nước được yên trị”.

Khánh Lộc

(Bài viết tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Nhân vương Trịnh Cương; Mười hai đời chúa Trịnh và lễ hội phủ Trịnh, và một số tài liệu khác).

Bình luận

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Tin cùng chuyên mục

Dấu ấn một dòng họ khoa bảng, trung liệt

Dấu ấn một dòng họ khoa bảng, trung liệt

Đất và người
(Baothanhhoa.vn) - Nằm yên bình bên hạ lưu sông Chu, từ đường họ Nguyễn Đình ở thôn Lam Vỹ, xã Thiệu Vũ (nay là xã Thiệu Tiến) không chỉ là một công trình kiến trúc cổ kính mà còn là biểu tượng của tinh thần hiếu học, lòng yêu nước và truyền thống “uống nước nhớ...
Dấu ấn nhà Lê giữa đại ngàn Linh Sơn

Dấu ấn nhà Lê giữa đại ngàn Linh Sơn

Đất và người
(Baothanhhoa.vn) - Linh Sơn là vùng đất in đậm dấu tích của nghĩa quân Lam Sơn và Lê Lợi với các địa danh nổi tiếng như chùa Mèo, núi Chí Linh, thác Ma Hao... Tự hào về lịch sử văn hóa truyền thống, cấp ủy, chính quyền và Nhân dân xã luôn quan tâm bảo tồn và phát huy...
Hiển danh dòng họ Nguyễn Thọ Trù

Hiển danh dòng họ Nguyễn Thọ Trù

Đất và người
(Baothanhhoa.vn) - Hơn 440 năm hình thành và phát triển, dòng họ Nguyễn Thọ Trù đã tạo dựng một truyền thống hiếu học, trọng nghĩa bền vững trên vùng đất Hoằng Lộc. Trên mảnh đất ấy, tên tuổi Hoàng Giáp, Tướng Công Nguyễn Cẩn (1537-1585) không chỉ được lưu giữ trong...
Dấu ấn Quang Trung trên đất Bỉm Sơn

Dấu ấn Quang Trung trên đất Bỉm Sơn

Đất và người
(Baothanhhoa.vn) - Trên hành trình thần tốc tiến quân ra Thăng Long đại phá quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789, Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ cùng nghĩa quân Tây Sơn đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trên vùng đất Bỉm Sơn. Thời gian qua, cấp ủy và chính quyền địa...
Lên Mường Đòn nghe huyền tích vị tướng Vũ Duy Dương

Lên Mường Đòn nghe huyền tích vị tướng Vũ Duy Dương

Đất và người
(Baothanhhoa.vn) - Nằm nép mình giữa núi rừng xanh thẳm, Mường Đòn xưa, nay là làng Vân Đội, xã Thành Vinh không chỉ nổi tiếng bởi cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp mà còn gắn với huyền tích vị tướng Vũ Duy Dương - người có công khai ấp, lập Mường ở vùng đất này.
Chứng nhận tín nhiệm mạng
Việt Long Phần mềm tòa soạn
hội tụ thông minh