Đổi cách làm nghề, nâng giá trị thủy sản mỗi chuyến biển
Tỉnh Thanh Hóa đang đổi cách phát triển nghề cá theo hướng siết chặt kỷ luật chống khai thác IUU, quản lý xuyên suốt từ tàu cá đến sản phẩm, từ xử lý vi phạm sang đồng hành để phòng ngừa, nâng chất lượng đội tàu, hậu cần và đầu ra, qua đó nâng giá trị thủy sản mỗi chuyến biển.
Tại hội nghị tuyên truyền pháp luật về chống khai thác IUU mới đây, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Cường nhấn mạnh 4 nhiệm vụ cốt lõi đó là: xác định chống IUU là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên; siết quản lý tàu cá ngay từ bờ, xử lý dứt điểm vi phạm VMS; chuyển từ nhắc nhở sang chủ động đồng hành, phòng ngừa, không để khoảng trống quản lý; tháo gỡ khó khăn, nâng cao ý thức tuân thủ, hướng tới nghề cá có trách nhiệm, an toàn và bền vững.

Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đức Cường.
Ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) Thanh Hóa vừa có cuộc trao đổi với phóng viên Báo điện tử Thanh Hóa về việc triển khai các chỉ đạo của tỉnh nhằm nâng cao giá trị hải sản, chống khai thác IUU, bảo vệ nguồn lợi và thực hiện mục tiêu phát triển đến năm 2030.
Siết kỷ luật IUU, quản lý xuyên suốt từ bờ
Phóng viên: Thưa ông, thực tế đội tàu của tỉnh có gần 6.200 chiếc, vì sao phải đổi cách làm nghề thay vì tiếp tục đặt mục tiêu tăng số lượng tàu cá và sản lượng khai thác?
Ông Nguyễn Đức Cường: Tháng 9/2026, toàn tỉnh có 6.191 tàu cá, trong đó 4.449 tàu dưới 6m và 951 tàu 15m trở lên. Cơ cấu này cho thấy tàu nhỏ chiếm hơn một nửa, chủ yếu khai thác ven bờ.
Vì vậy, Thanh Hóa không định hướng tăng tàu khai thác vùng khơi bằng mọi giá, mà tập trung cơ cấu lại đội tàu nhằm giảm áp lực ven bờ, hỗ trợ giải bản, chuyển đổi nghề đối với tàu không còn nhu cầu. Đồng thời, nâng cấp tàu đủ điều kiện, tăng năng lực vươn khơi, nâng giá trị mỗi chuyến biển, bảo đảm tuân thủ pháp luật, chống khai thác IUU.
Đến năm 2027, tỉnh định hướng duy trì khoảng 6.100 tàu, trong đó khoảng 1.000 tàu từ 15m trở lên.
Phóng viên: Một thay đổi lớn trong quản lý tàu cá từ nhắc nhở khi có vi phạm sang phòng ngừa, tỉnh đang thực hiện việc này như thế nào và hiệu quả ra sao?
Quan điểm của tỉnh là quản lý từ trước khi tàu rời cảng và xuyên suốt cả chuyến đi biển. Tàu không đủ điều kiện thì không được ra khơi. Chủ tàu, thuyền trưởng phải chịu trách nhiệm về thiết bị giám sát, nhật ký khai thác, vùng hoạt động và sản phẩm khai thác.
Trong 9 tháng năm 2026, Thanh Hóa đã cập nhật 2.876 tàu vào cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia và 100% số tàu có chiều dài từ 15m trở lên được lắp thiết bị giám sát hành trình. Riêng 8 tháng năm 2026, tỷ lệ tàu mất kết nối VMS trên biển giảm 84% so với cùng kỳ năm 2025. Hệ thống eCDT cũng đã được triển khai cho 2.836/2.882 tàu, đạt 98,4%.
Trong thời gian này không có tàu cá Thanh Hóa bị bắt giữ, xử lý do vi phạm khai thác ở vùng biển nước ngoài. Những con số này cho thấy việc quản lý bằng dữ liệu, giám sát hành trình và kiểm soát ngay từ bờ đang từng bước chuyển từ xử lý vi phạm chống IUU sang phòng ngừa vi phạm đã có kết quả.

Tàu cá của ngư dân xã Vạn Lộc, tỉnh Thanh Hóa vươn khơi, góp phần khai thác tiềm năng biển theo hướng an toàn, có trách nhiệm, nâng giá trị mỗi chuyến biển.
Cơ cấu lại đội tàu, bảo vệ nguồn lợi
Phóng viên: Nhưng thưa ông, tỉnh cơ cấu lại đội tàu sẽ tác động đến sinh kế của ngư dân?
Ông Nguyễn Đức Cường: Cơ cấu lại không có nghĩa là làm giảm cơ hội mưu sinh của ngư dân, mà là sắp xếp lại nghề cá phù hợp với nguồn lợi và điều kiện khai thác. Thanh Hóa sẽ không chạy theo số lượng tàu mà tập trung nâng chất lượng đội tàu, khuyến khích phương tiện đủ điều kiện, có công suất, các trang thiết bị để khai thác vùng khơi dài ngày.
Trong 9 tháng năm 2026, tỉnh đã cấp 128 văn bản chấp thuận đóng mới, cải hoán, mua tàu cá; cấp 250 giấy chứng nhận đăng ký tàu cá và 246 giấy phép khai thác thủy sản.
Đây là một phần của quá trình sắp xếp lại đội tàu theo hướng có kiểm soát, thay thế dần phương tiện không còn phù hợp, triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách chuyển đổi nghề, giải bản tàu và hỗ trợ nâng cấp thiết bị, bảo quản sản phẩm.

Mục tiêu cuối cùng mà Thanh Hóa đề ra là mỗi tàu ra khơi phải có khả năng khai thác phù hợp, an toàn và tạo ra giá trị cao hơn thay vì tăng số lượng phương tiện gây áp lực lên nguồn lợi ven bờ.
Phóng viên: Sản lượng khai thác vẫn tăng, tỉnh sẽ cân bằng giữa mục tiêu phát triển nghề cá với yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thủy sản như thế nào?
Ông Nguyễn Đức Cường: Chúng tôi xác định tăng sản lượng không thể là mục tiêu duy nhất. Tính đến tháng 9/2026, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác ước đạt 171.015 tấn, tăng 3,05% so với cùng kỳ; riêng khai thác đạt 108.214,75 tấn, trong đó khai thác biển đạt 104.806,69 tấn, tăng 2,58%.
Nhưng phía sau con số tăng trưởng đó, là yêu cầu phải giữ được nguồn lợi cho những năm tiếp theo. Vì vậy, tỉnh sẽ cơ cấu đội tàu theo trữ lượng và sức chịu tải của từng vùng biển, từng bước giảm khai thác ven bờ, kiểm soát chặt sản lượng, vùng khai thác và nguồn gốc sản phẩm.
Nói cách khác, phát triển nghề cá phải dựa trên khả năng tái tạo của nguồn lợi, nếu chỉ tăng sản lượng trong ngắn hạn mà làm suy giảm nguồn lợi thì giá trị kinh tế lâu dài của nghề cá bị ảnh hưởng.
Nâng giá trị thủy sản từ biển lên bờ
Phóng viên: Một chuyến biển có hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào con tàu, tỉnh sẽ giải quyết những khâu nào từ cảng cá, bảo quản đến tiêu thụ để nâng giá trị sản phẩm?
Ông Nguyễn Đức Cường: Đúng vậy, con tàu chỉ là một mắt xích. Muốn ngư dân có thu nhập tốt hơn phải nâng giá trị từ lúc sản phẩm được đưa lên tàu cho đến khi vào cảng, qua bảo quản, sơ chế, chế biến và đến thị trường.
Hiện tỉnh có 4 cảng cá chỉ định cho tàu cá hoạt động vùng khơi gồm Hòa Lộc, Lạch Hới, Lạch Bạng và Hải Châu. Tuy nhiên, các cảng này được đầu tư từ hơn 10 năm trước nên một số hạng mục đã xuống cấp, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của đội tàu.

Cá sau khi khai thác được ngư dân đưa vào bờ sơ chế, phơi khô, góp phần nâng giá trị sản phẩm từ biển lên bờ, thay vì chỉ dựa vào sản lượng khai thác.
Vì vậy, định hướng năm 2027 là tổ chức lại khai thác, nuôi trồng, hậu cần nghề cá và chế biến theo chuỗi giá trị, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ nâng cấp thiết bị, công nghệ bảo quản, cơ sở hạ tầng, chuyển đổi nghề và giải bản tàu không còn phù hợp.
Phóng viên: Vậy theo ông, thước đo cuối cùng của việc đổi cách làm nghề cá và thực hiện các chính sách hiện nay là gì?
Ông Nguyễn Đức Cường: Thước đo phải là kết quả thực tế trên biển và trên bờ, vi phạm IUU giảm, không để tàu vượt ranh giới khai thác, nguồn lợi được bảo vệ, sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng và ngư dân có thu nhập tốt hơn từ mỗi chuyến biển.
Đối với chống khai thác IUU, nguyên tắc phải rất rõ đối với tàu không đủ điều kiện thì không được ra khơi khai thác, còn tàu ra khơi phải được giám sát chặt sẽ, không chứng minh được nguồn gốc thì không được đưa vào chuỗi thu mua, chế biến và xuất khẩu.
Muốn vậy, dữ liệu từ tàu cá, VMS, nhật ký khai thác, cảng cá, sản lượng bốc dỡ và doanh nghiệp phải được kết nối để có thể truy xuất sản phẩm từ nơi khai thác đến thị trường tiêu thụ.
Với phát triển nghề cá, mục tiêu không phải là để ngư dân đi biển nhiều hơn mà là mỗi chuyến biển tạo ra giá trị cao hơn. Đến năm 2030, Thanh Hóa định hướng tổng sản lượng thủy sản khoảng 215.000 tấn, trong đó khai thác khoảng 145.000 tấn.
Đổi cách làm nghề bằng hệ thống chính sách đi đôi với quản lý chặt chống khai thác IUU, cơ cấu lại đội tàu để bảo vệ nguồn lợi, đầu tư hậu cần, bảo quản để nâng giá trị. Khi những khâu này vận hành đồng bộ, ngư dân mới có thể vươn khơi an toàn, khai thác thủy sản bền vững lâu dài.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!
Đặng Trung (thực hiện)





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu