Thoát nghèo bền vững từ những mô hình sinh kế phù hợp
Công tác giảm nghèo của tỉnh đang chuyển mạnh từ hỗ trợ trước mắt sang tạo sinh kế lâu dài, lấy người dân làm trung tâm. Từ những mô hình chăn nuôi ở bản Cá Nọi, xã Pù Nhi đến kinh tế rừng ở Yên Khương, khi vốn và kỹ thuật được trao đúng chỗ, người dân vùng biên đã dần làm chủ cách làm ăn, từng bước thoát nghèo theo hướng bền vững.

Mô hình trồng cây vầu đắng của gia đình ông Lò Văn Quang ở bản Tứ Chiềng, xã Yên Khương.
Bản Cá Nọi, xã Pù Nhi từng là một trong những “vùng trũng” về sinh kế ở vùng biên. Địa hình dốc cao, đường sá cách trở, sản xuất manh mún, quanh năm bà con chỉ bám vào nương rẫy, vì thế cái nghèo đeo bám qua nhiều thế hệ. Những năm gần đây, cùng với các lớp đào tạo nghề và nguồn vốn tín dụng chính sách, tư duy làm ăn của người dân bắt đầu đổi khác. Bí thư chi bộ, trưởng bản Cá Nọi Hơ Văn Thành là một trong những người đi trước trong sự thay đổi ấy.
Từ chỗ thuộc diện hộ nghèo, anh bàn với vợ vay vốn ngân hàng chính sách xã hội để đầu tư chăn nuôi theo hướng bài bản. Những ngày đầu, việc chuyển từ chăn thả tự nhiên sang nuôi có chuồng trại, với gia đình anh không hề dễ. Có thời điểm, sau một đợt mưa kéo dài, đàn bò xuất hiện dấu hiệu bệnh, nếu không xử lý kịp thời có thể mất trắng. Nhưng khác với trước kia, anh Thành chủ động mời cán bộ thú y vệ sinh lại toàn bộ chuồng trại, tiêm phòng đúng quy trình.
Đầu năm 2025, khi đã tích lũy thêm kiến thức qua các lớp học nghề, gia đình anh tiếp tục mở rộng quy mô chăn nuôi. Hiện gia đình duy trì gần 10 con trâu, bò và 6 con lợn bản địa cùng đàn gia cầm gần trăm con, tạo nguồn thu ổn định mỗi năm. Điều đáng nói là anh Thành không giữ riêng kinh nghiệm cho gia đình mình. Ngoài công việc của trưởng bản, anh thường xuyên hỗ trợ bà con trong bản về kỹ thuật chăm sóc, thú y, thụ tinh nhân tạo cho đàn vật nuôi. Nhiều hộ trước đây nuôi nhỏ lẻ, rủi ro cao, nay đã mạnh dạn làm chuồng trại, tiêm phòng, chủ động nguồn thức ăn.
Cá Nọi hiện có 124 hộ dân, với 586 nhân khẩu. Thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Dự án 5 về phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi, bà con được tiếp cận giống cây, con mới; được đào tạo nghề về chăn nuôi, trồng trọt, phòng trị bệnh cho gia súc, gia cầm. Từ chỗ làm để đủ ăn, nhiều hộ dần chuyển sang làm để có tích lũy, biết tính toán đầu vào đầu ra, chủ động nguồn thức ăn, phòng dịch, chọn vật nuôi phù hợp, không còn trông vào may rủi.
Tại xã Yên Khương, hướng thoát nghèo của người dân địa phương lại gắn với kinh tế rừng, nơi cây vầu đắng đang dần trở thành cây sinh kế bền vững. Vầu đắng phù hợp với đất dốc, chịu hạn, ít sâu bệnh và kỹ thuật chăm sóc không quá phức tạp, đầu tư ban đầu thấp nhưng cho khai thác dài hạn. Từ năm 2018, Yên Khương triển khai trồng vầu thâm canh theo các Chương trình 30a, Chương trình 135, gắn hỗ trợ giống, kỹ thuật với định hướng phát triển kinh tế rừng. Đến nay, toàn xã có khoảng 600ha rừng vầu, trong đó hơn 400ha được trồng thâm canh, tạo vùng nguyên liệu tập trung và mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.
Gia đình ông Lò Văn Quang ở bản Tứ Chiềng là một trong những hộ tiên phong thoát nghèo nhờ cây vầu. Với 4ha vầu canh tác ổn định, mỗi năm gia đình ông thu khoảng 120 triệu đồng từ khai thác thân vầu, măng và nan thanh, đồng thời tạo việc làm thời vụ cho nhiều lao động trong bản. “Vầu đắng khỏe, dễ trồng, thu hoạch quanh năm, chăm đúng cách là có thu nhập đều, không lo mất mùa như trồng ngô trên nương”, ông Quang chia sẻ.
Theo tính toán của địa phương, từ năm thứ ba trở đi, mỗi ha vầu có thể cho thu nhập trên 50 triệu đồng/năm và khai thác ổn định trong 40 - 50 năm. Ngoài bán vầu nguyên liệu, người dân còn tận dụng măng vầu, nan thanh để tăng giá trị, từng bước hình thành sinh kế gắn với kinh tế rừng bền vững.
Cùng với phát triển kinh tế rừng, xã Yên Khương triển khai mô hình nuôi bò cái sinh sản thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 tại các bản Xắng Hằng, Yên Bình và Chiềng Nưa. Trong 2 năm qua, xã đã hỗ trợ 77 con bò giống cho 77 hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo trên địa bàn. Đồng thời, tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi, phối giống và phòng, chống dịch bệnh. Nhờ làm chặt khâu hướng dẫn, giám sát và chăm sóc theo đúng quy trình, đàn bò sinh trưởng ổn định, không phát sinh dịch bệnh lớn, đến nay đã có gần 80 bê con được sinh ra, trở thành “cần câu cơm” giúp nhiều hộ dân duy trì sinh kế lâu dài.
Nhờ các mô hình sinh kế phù hợp, đời sống người dân Yên Khương từng bước cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 40 triệu đồng/năm, tăng gần gấp đôi so với năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 19,09%, hộ cận nghèo 41,52%. Theo Phó Chủ tịch UBND xã Yên Khương Trần Quốc Khánh, điều quan trọng không chỉ là con giống hay diện tích rừng, mà là sự thay đổi tư duy sản xuất, từ chăn thả tự nhiên sang nuôi tập trung, từ khai thác ngắn hạn sang làm ăn bền vững.
Từ những câu chuyện cụ thể ở bản Cá Nọi, xã Pù Nhi hay xã Yên Khương, có thể thấy, giảm nghèo bền vững không nằm ở cho thêm bao nhiêu, mà ở việc mở đúng hướng sinh kế để người dân tự đứng lên bằng sức mình. Khi đã biết học nghề, biết làm theo quy trình, biết chọn cây con phù hợp và kiên trì bám đất, bám rừng để làm ăn lâu dài, cái nghèo sẽ lùi dần theo cách chắc chắn hơn.
Bài và ảnh: Tăng Thúy





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu