Nhà văn Ngân Hằng và những trang viết về phụ nữ
Với Ngân Hằng, cảm xúc là khởi nguyên quan trọng và ý nghĩa nhất cho mỗi trang viết. Bất kỳ ai dõi theo hành trình sáng tạo của nữ nhà văn Ngân Hằng đều nhận thấy rất rõ: Hình ảnh người phụ nữ là mạch nguồn dạt dào, bất tận, làm nên đặc sắc, hấp dẫn trong những trang viết của chị. Mỗi trang viết là một thân phận, một tiếng lòng riêng, là một mảnh ghép trong muôn mặt cuộc đời.

Tập truyện và ký “Ngôi nhà ba lá” (NXB Quân đội Nhân dân, 2020) của nữ nhà văn Ngân Hằng.
“Chuông chùa đồng vọng” - nước mắt người phụ nữ trong chiến tranh
Dường như tất cả những người phụ nữ xuất hiện trong tập truyện ngắn "Chuông chùa đồng vọng” (NXB Quân đội Nhân dân, 2016) của nữ nhà văn Ngân Hằng đều mang trong mình trái tim nhân hậu, bao dung, luôn yêu và khao khát được yêu bằng tất cả sự chân thành. Tuy nhiên, cuộc sống không công bằng đáp trả những đức tính tốt đẹp ấy mà luôn có muôn vàn ngã rẽ, biến cố đẩy cuộc đời họ rơi vào đa đoan, bất hạnh. Tột cùng của cuộc đời đa đoan, bất hạnh ấy, có lẽ là nhân vật O trong truyện ngắn “Chuông chùa đồng vọng”. Tên của truyện ngắn được lấy làm tên cho cả tập truyện.
O là người phụ nữ bản lĩnh, sống có lý tưởng, không vội chuyện yêu đương mà chỉ một lòng muốn được tham gia chiến đấu, giúp sức cùng quê hương, đất nước. Làng của O được đón đơn vị bộ đội về ăn tết cùng. Trong số đó có chú Hội - người đội trưởng hơn O độ chừng 3 tuổi. Cũng như O, chú Hội sống có lý tưởng, đang học dở năm thứ hai đại học thì trốn cha mẹ lên đường nhập ngũ. Sự đồng điệu ấy đã bước đầu kéo gần khoảng cách. Dần dà, sự tiếp xúc, va chạm nhỏ trong cuộc sống khiến trái tim người thiếu nữ rộn ràng nhịp đập, dâng trào cảm xúc. O thích chú Hội và có lẽ, chú Hội cũng bắt đầu cảm mến O từ những rung động khẽ khàng, kín đáo ấy.
Để rồi, khi những cảm xúc lớn dần lên trong hai trái tim cũng là lúc đơn vị bộ đội phải rời làng, tiếp tục hành quân. Lời yêu chưa kịp nói nhưng họ đã kịp trao nhau những giây phút thăng hoa, gieo vào nhau vô vàn thương nhớ. Bịn rịn kẻ ở người đi, O một lòng chờ đợi. Ngày nhận tin chú Hội hy sinh, O như chết một nửa linh hồn. Tình yêu quá lớn, nỗi đợi chờ khắc khoải bao năm khiến O không chấp nhận sự thật. O quyết định rời làng, theo tiếng gọi của tình yêu mà bất chấp hiểm nguy, xin vào chiến trường Bình - Trị - Thiên làm thanh niên xung phong. Bao lần đối mặt với cái chết, vết thương này chưa khô miệng thì vết thương khác lại chảy máu. Nhưng O mặc kệ tất cả những nỗi đau thể xác ấy.
Bi kịch lại một lần nữa ập đến với O. Đơn vị của O rơi vào tay địch. Chúng chà đạp những người phụ nữ ấy không thương tiếc. Bom đạn không giết được những người đàn bà kiên cường, dũng cảm nhưng nỗi đau đớn, tủi nhục, ghê tởm đã quật ngã họ. Họ cùng nhau cắn lưỡi tự vẫn. Riêng O, O vẫn cắn răng mà sống, bởi trong lòng O còn có một động lực mãnh liệt là tình yêu. Quân giặc đánh đập O, nhốt O xuống một căn hầm.
O sống mà như đã chết. Độc giả có thể cảm nhận được nỗi đau thể xác và tinh thần của người đàn bà ngày ngày bị nhốt dưới hầm tối. Có lẽ, nếu mong mỏi tìm được chú Hội không đủ lớn để lấn át đi hiện thực phũ phàng thì O đã chết từ khoảnh khắc bị quân giặc làm nhục. Tình yêu khiến O khổ sở quá nhưng O yêu bằng tất cả tấm lòng mình. Một trong những điều khiến phụ nữ hạnh phúc nhất đời là tình yêu; và tình yêu cũng là một trong những điều làm nên bất hạnh lớn nhất đời phụ nữ. Muôn kiếp nhân sinh là thế.
Nhân vật O là điển hình cho cuộc đời đầy rẫy bi kịch, nước mắt chồng nước mắt, nỗi đau chồng nỗi đau của người đàn bà trong chiến tranh. Ngày O được cứu thoát khỏi hố sâu, O nửa mê nửa tỉnh, thân tàn ma dại. Chính tình yêu thương, chăm sóc của mọi người xung quanh khiến O dần hồi phục và đi đến quyết định vào chùa, nương nhờ cửa Phật. Đó là chốn tịnh tâm cuối cùng của người đàn bà đầy những tổn thương cả thể xác và tinh thần.
Câu chuyện khép lại khi nút thắt trong lòng O được mở ra. Đó là khoảnh khắc O nhận ra chú Hội trong một chương trình phát sóng trên truyền hình. Chú vẫn khỏe mạnh, cuộc sống đã êm ấm, vợ con đuề huề. Từ những chia sẻ trên sóng truyền hình, chú có nhắc về ngôi làng, về nỗi day dứt với O. Sau bao mong ngóng, đợi chờ, hy sinh, O đã nhìn thấy con người mà mình yêu đến chết đi sống lại nhưng tuyệt nhiên O không tìm gặp chú. O nhắn gửi trả chú Hội chiếc cặp tóc năm nào và yên bình khép lại lòng mình chốn cửa thiền.
Chiến tranh thật khốc liệt. Chiến tranh chia cắt tình yêu của biết bao người, khiến cho bao cuộc đời lỡ dở, bao tuổi xuân nằm lại cùng đất mẹ. Trong đó, cuộc đời người phụ nữ luôn là những thước phim đong đầy nước mắt. Ngân Hằng đã khắc họa tình yêu cá nhân hòa trong tình yêu nước. Ngân Hằng sinh ra giữa thời bình nhưng viết về người đàn bà trong chiến tranh bằng sự thấu cảm, tri ân sâu sắc.
“Ngôi nhà ba lá” - bản năng của phụ nữ là bao dung
Nếu “Chuông chùa đồng vọng” là tiếng ngân của tình yêu thì tập truyện và ký “Ngôi nhà ba lá” (NXB Quân đội Nhân dân, 2020) lại cho thấy một Ngân Hằng hiện đại, cá tính, sắc sảo, luôn lặng lẽ ngồi đó quan sát mọi chuyển động của đời sống và khắc họa lại nội tâm nó bằng ngôn ngữ, trên những trang văn.

Tập truyện ngắn “Chuông chùa đồng vọng” (NXB Quân đội Nhân dân, 2016) - bản hòa ca của tình yêu mà mỗi gương mặt, chuyện đời người phụ nữ viết nên một nốt nhạc ngân vang.
“Ngôi nhà ba lá” là một câu chuyện cổ tích giữa đời thường. Ở đó, mỗi nhân vật là một số phận khác nhau nhưng tình yêu thương, tấm lòng bao dung sáng bừng lên như biểu tượng đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong mọi hoàn cảnh. Một câu chuyện khai thác đề tài hậu chiến thật đời, thật sâu sắc, cảm động.
Ngay từ đầu câu chuyện, ông bố - người cựu chiến binh với hoàn cảnh đặc biệt “gà trống nuôi con”. Ba đứa con gái của ông lớn lên ngoan ngoãn, hiểu chuyện. Ai cũng ủng hộ chuyện bố đi bước nữa, có người bầu bạn sớm hôm.
Dì Lâm - người phụ nữ ở ngay kế bên nhà, vì yêu mến, cảm thông với hoàn cảnh của người cựu binh mà tình nguyện ở bên săn sóc. Ba cô con gái ủng hộ, nhưng ông bố nhất mực không đồng ý. Cho đến một ngày, ông ốm nặng, khi các con tề tựu đông đủ bên ông thì lại thấy xuất hiện một người phụ nữ khác, không phải dì Lâm. Mấy cô con gái tỏ ý khó chịu, bài xích sự xuất hiện của gương mặt lạ lẫm ấy. Nhưng chẳng ai biết được rằng, người phụ nữ xa lạ ấy chính là đồng đội đã cùng vào sinh ra tử, là người lấy thân mình che chở cho mẹ của họ trong một trận máy bay địch oanh tạc vào đội hình. Và giờ đây khi bố các cô ốm đau, bà đến để chăm sóc, tự nguyện làm mẹ kế các cô... Hơn cả tình yêu, đó là tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng.
Tình tiết truyện càng được đẩy lên cao ở phía cuối câu truyện, khi dì Lâm bước tới nhà và tự nhận mình là một mảnh ghép thân thuộc của ngôi nhà - ngôi nhà ba lá ấm áp và tràn ngập tình yêu thương. Vậy đấy, cuộc đời sẽ tươi đẹp biết mấy nếu ta biết đặt mình vào vị trí của nhau, biết chia sẻ và cảm thông trước mọi điều.
Với lối kể chuyện mộc mạc, giản dị nhưng sâu sắc, truyền tải những thông điệp sống cao đẹp, nữ nhà văn Ngân Hằng luôn chinh phục độc giả bằng những rung động mãnh liệt của cảm xúc. Một trong những điểm ấn tượng trong bút pháp truyện ngắn của Ngân Hằng là khả năng khai thác, khắc họa tâm lý nhân vật; tạo dựng tình huống, truyện lồng trong truyện. Để rồi, phía sau những câu chuyện, hình ảnh người phụ nữ trong các tác phẩm của nữ nhà văn Ngân Hằng ghi đậm dấu ấn trong lòng bạn đọc bởi nghị lực phi thường, tấm lòng nhân hậu, bao dung và trái tim ấm áp tình - tình đời, tình người.
Bài và ảnh: Nguyên Linh





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu