Hoa trên sóng Lạch Bạng (Bài cuối): Một đời lo việc làng, việc nhà
Bên cửa biển Lạch Bạng, những cô gái Hải Bình năm xưa đã gửi tuổi xuân vào những chuyến tải đạn ra đảo Hòn Mê cùng những lần đối mặt với bom chưa nổ, những bữa cơm dành phần cho bộ đội. Mỗi người một công việc, một cảnh đời, cùng góp sức giữ làng, giữ biển qua những năm tháng chiến tranh. Hôm nay, khi mái tóc đã bạc, chuyện các bà kể đưa chúng tôi trở lại một thời tuổi trẻ gan góc mà giàu thương yêu. Từ những cuộc đời bình dị ấy, vẻ đẹp của người phụ nữ làng biển vẫn bền bỉ tỏa hương, như hoa trên sóng Lạch Bạng.
Năm 1968, bom đánh sập căn nhà gỗ của gia đình bà Nguyễn Thị Ứng, nơi tập kết lương thực, vũ khí chờ chuyển ra Hòn Mê. Mất nhà, người mẹ trẻ vừa lo chỗ ở cho con, vừa tiếp tục công việc hậu cần. Qua lời bà kể, phía sau những chuyến hàng ra đảo là bao nhọc nhằn, mất mát mà từng gia đình làng biển đã gánh chịu.

Bà Nguyễn Thị Ứng (SN 1941) ở tổ dân phố Liên Hải (phường Hải Bình) bên những tấm huy chương được gìn giữ qua năm tháng.
Gạo nuôi con, gạo dành cho bộ đội
Nhắc đến căn nhà cũ gần biển của gia đình chồng, bà Nguyễn Thị Ứng (SN 1941) ở tổ dân phố Liên Hải (phường Hải Bình) bảo không còn dấu tích nào. Đó từng là nơi tập kết lương thực, vũ khí tiếp tế cho đảo Hòn Mê, rồi bị bom đánh phá tan tành. Ngôi nhà bà đang ở được dựng về sau, khi chồng từ quân ngũ trở về, hai vợ chồng mua đất, gây dựng lại chỗ ở.
Nằm sát mép nước Lạch Bạng, căn nhà của ông Nguyễn Văn Thức, bố chồng bà Nguyễn Thị Ứng, thuận tiện cho việc tập kết hàng chuyển ra đảo Hòn Mê. Theo “Địa chí xã Hải Bình”, tháng 1/1967, gia đình ông Thức và gia đình ông Trần Văn Thuỳ xung phong cho mượn nhà làm kho chứa vũ khí, đạn dược.

Bà Nguyễn Thị Ứng xem lại những trang viết tay được lưu giữ tại nhà riêng.
Khi ấy là Bí thư Xã đoàn Hải Bình, bà Ứng vừa vận động thanh niên tham gia tiếp nước, tiếp đạn, vừa cùng lực lượng nữ du kích trực tiếp bốc dỡ hàng tại bãi tập kết. Công việc theo bà về ngay dưới mái nhà gia đình, nơi vũ khí, lương thực được trung chuyển, chờ xuống thuyền ra đảo.
Bà nhớ lại: “Đạn dược, súng cối, gạo đỗ từ khắp nơi chở về đều tập kết trong nhà tôi. Ngày thì máy bay Mỹ dội bom, soi mói gắt gao; đêm đến, chị em du kích lại lặng lẽ trong bóng tối, cõng từng thùng đạn, vác từng bao gạo xuống thuyền để rẽ sóng vượt biển ra đảo Mê”.
...đêm đến, chị em du kích lại lặng lẽ trong bóng tối, cõng từng thùng đạn, vác từng bao gạo xuống thuyền để rẽ sóng vượt biển ra đảo Mê.
Theo lời bà kể, năm 1968, trong những trận đánh phá nhằm cắt đường tiếp tế, căn nhà gỗ của gia đình bị bom san phẳng. Nhờ căn hầm kiên cố do bố chồng đào sẵn, những người ở nhà thoát nạn. Khi từ hầm trở lên, trước mắt họ là nhà cửa đổ nát, đồ đạc cùng tài sản dành dụm bị vùi lấp, hư hỏng.
Bà nhớ rõ chum gạo của nhà bị vỡ, gạo đổ ra lẫn cát, sạn. Mẹ chồng nhặt nhạnh, gạn lấy phần còn lại để nấu ăn. Gạo, đỗ của bộ đội gửi cũng vương vãi sau trận bom, nhưng mẹ chồng dặn: “Mẹ con mình nhịn đói, ăn củ dáy, củ khoai qua ngày cũng được. Gạo đỗ này là của Nhà nước, của bộ đội gửi, tuyệt đối không được tơ hào một vốc”.
Mấy mẹ con gạt nước mắt, thu gom phần lương thực ấy, để riêng rồi báo cán bộ xã đến niêm phong, bàn giao lại cho quân đội.
![]()
Nhà bị phá tan, không còn gì để sửa sang, chắp vá, gia đình phải đi ở nhờ. Chồng bà đang đi bộ đội, bố chồng tham gia vận lương, tải đạn phục vụ chiến trường. Việc thu xếp chỗ ở, chăm lo con nhỏ dồn lên những người phụ nữ ở lại. Bữa ăn những ngày sau đó phải chắt chiu từ phần gạo lẫn cát sạn được nhặt, gạn lại trong chiếc chum vỡ của nhà. Qua bao năm, bà vẫn nhớ lời mẹ chồng dặn giữa cảnh mất nhà, thiếu ăn: Phần lương thực của bộ đội phải giữ để bàn giao!

Cùng mẹ chồng thu xếp cuộc sống gia đình, bà Ứng vẫn tiếp tục công việc ở xã. Ngoài tiếp tế, bà còn chăm sóc, vận chuyển thương binh và lo hậu sự cho bộ đội hy sinh. Sau mỗi trận đánh, phải tìm người, tìm phương tiện đưa người bị thương đi cứu chữa, thu xếp áo quan, vải và nơi an táng cho người đã mất. Có những tên người, mốc năm bà không còn nhớ trọn vẹn, nhưng những phần việc phải lo cho đồng đội vẫn còn trong lời kể.
Rồi còn việc lo chỗ ở cho người sống. Trong phần tổng kết hai cuộc kháng chiến, “Địa chí xã Hải Bình” ghi địa phương có 171 ngôi nhà bị cháy, đổ. Gia đình bà là một trong những mái nhà chịu mất mát ấy. Sau những ngày ở nhờ, việc tìm đất, kiếm vật liệu, dành dụm để dựng lại nhà trở thành nỗi lo kéo dài.
Những bức tường đắp bằng vỏ sò
Chồng từ quân ngũ trở về, bà Ứng mới có người cùng san sẻ việc gây dựng lại chỗ ở cho gia đình. Hai vợ chồng chắt chiu dành dụm, mua một mảnh đất nhỏ ở nơi nay là tổ dân phố Liên Hải. Ngày ấy, tiền bạc eo hẹp, mua gạch, xi măng để làm nhà vượt quá khả năng của gia đình. Vợ chồng bà quảy gánh ra biển, nhặt từng vỏ sò, vỏ hến, vỏ nghêu dạt vào bờ. Mang về, họ đổ thành đống, đập nhỏ rồi trộn với cát biển và vôi, đắp dần thành những bức tường dày. “Có căn nhà này, gia đình mới hết cảnh đi ở nhờ. Nhà cũng qua bao mùa bão biển rồi”, bà Ứng nhớ lại.

Bà Nguyễn Thị Ứng chỉ bức tường xây bằng vỏ sò trộn cát, nhắc lại những ngày gia đình dựng lại mái nhà sau bom đạn.
Bà lấy chồng khi ông còn tại ngũ. Những lần ông tranh thủ ghé nhà rồi lại khoác ba lô lên đường, vợ chồng chỉ có ít ngày bên nhau. Khi chồng trở về, hai người cùng lo dựng nhà, làm ăn, nuôi con. Gia đình có 7 người con, 5 gái, 2 trai; giữa thời bao cấp thiếu thốn, lo đủ bữa ăn cho từng ấy người đã là việc nhọc nhằn, trong khi bà vẫn phải dành thời gian cho công tác ở xã.
Thấy vợ tất bật giữa công việc và đàn con, có lúc ông khuyên bà nghỉ công tác đoàn thể để tập trung chăm lo gia đình. Nhưng nghĩ đến trách nhiệm của người đảng viên và sự tin cậy của dân làng, bà vẫn tiếp tục làm, thu xếp việc nhà giữa những buổi công tác. Sau khi nghỉ hưu, bà buôn bán cá tươi, mắm tôm dưới bến bãi rồi mở hàng tạp hóa trước hiên nhà.

Bà Nguyễn Thị Ứng sắp xếp hàng hóa trong gian hàng nhỏ đã gắn bó với bà hơn 20 năm.
Ở tuổi 85, gian tạp hóa ấy đã gắn bó với bà hơn hai thập kỷ. Trẻ đi học về ghé mua kẹo, người già tạt qua ngồi trên chiếc ghế gỗ, rủ rỉ chuyện xưa. Ngoài khoản thu nhập, việc bán hàng còn cho bà niềm vui gặp gỡ, trò chuyện mỗi ngày.
Trong chiếc hộp gỗ, bà giữ những tập hồ sơ đã hoen màu thời gian, huân chương, huy chương kháng chiến, giấy chứng nhận 55 năm tuổi Đảng và những bằng khen đã sờn mép. Bà cẩn thận giở từng tờ kê khai quá trình công tác, nheo mắt đọc những dòng mực tím đã phai. Từ tiểu đội trưởng du kích, Bí thư Xã đoàn đến công tác Hội Phụ nữ, Phó Chủ tịch UBND xã, mỗi nhiệm vụ lại gợi một phần đời.
Bà kể chuyện vận động diêm dân mở rộng ô nại, đắp cồn, xây cống mương giữa những đợt đánh phá; những lần lo an táng bộ đội hy sinh; rồi xuống Hải Thanh vận động đoàn kết lương - giáo, hướng dẫn chị em phát triển nghề làm mắm. Những chức danh trên giấy được bà nhớ bằng công việc, bằng những nơi đã đến và những người từng cùng làm.

Gian hàng nhỏ của bà Nguyễn Thị Ứng ở tổ dân phố Liên Hải, phường Hải Bình, cũng là nơi mọi người ngồi lại chuyện trò.
Còn khi nhắc chuyện nhà, điều bà nhớ mãi là lời mẹ chồng dặn giữ phần gạo của bộ đội. Căn nhà chứa hàng tiếp tế đã mất, nhưng lời dặn ấy theo bà qua những năm dựng lại chỗ ở, nuôi 7 người con giữa bao thiếu thốn. Ở tuổi 85, kể lại cho con cháu, bà còn truyền một cách sống từ người mẹ năm xưa: Nhà mình thiếu ăn vẫn không lấy một vốc gạo người khác gửi nhờ!
“Hoa trên sóng Lạch Bạng” là những người phụ nữ chúng tôi gặp trong căn nhà nhỏ, bên tấm ảnh cũ, những trang hồ sơ đã phai màu. Các bà kể chuyện mình, nhưng luôn nhắc những chị em cùng làm, những người đã mất. Dịp 20/10, lời tri ân xin được gửi đến cả những người còn kể chuyện hôm nay và những người chỉ còn trở về qua ký ức đồng đội. Họ đã cùng góp sức để thuyền ra được đảo, dân trở lại đồng, những mái nhà được dựng lên sau bom đạn. |
Tăng Thúy







Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu