Hoa trên sóng Lạch Bạng (Bài 1): Tuổi xuân trên những chuyến thuyền tải đạn
Bên cửa biển Lạch Bạng, những cô gái Hải Bình năm xưa đã gửi tuổi xuân vào những chuyến tải đạn ra đảo Hòn Mê cùng những lần đối mặt với bom chưa nổ, những bữa cơm dành phần cho bộ đội. Mỗi người một công việc, một cảnh đời, cùng góp sức giữ làng, giữ biển qua những năm tháng chiến tranh. Hôm nay, khi mái tóc đã bạc, chuyện các bà kể đưa chúng tôi trở lại một thời tuổi trẻ gan góc mà giàu thương yêu. Từ những cuộc đời bình dị ấy, vẻ đẹp của người phụ nữ làng biển vẫn bền bỉ tỏa hương, như hoa trên sóng Lạch Bạng.

Bà Hoàng Thị Thá, sinh năm 1950, tổ dân phố Liên Hải (phường Hải Bình), bên bức ảnh ghi lại hình ảnh mình thời trẻ tham gia lực lượng nữ du kích tải đạn tiếp tế cho đảo Hòn Mê.
Mười bảy, mười tám tuổi, bà Hoàng Thị Thá cùng những cô gái Hải Bình đưa đạn, tiếp nước ra đảo Hòn Mê (đảo Mê) giữa bom đạn. Những chuyến thuyền ấy chở theo sức trẻ, lòng gan dạ và tình nghĩa với người lính. Để rồi 58 năm sau, cuộc hội ngộ với người lính lái xe từng được bà cùng đồng đội cứu sống đã nối lại những ký ức sâu nặng của một thời tuổi trẻ.
Mười cô gái vượt sóng
Trên tường căn nhà nhỏ của bà Hoàng Thị Thá ở tổ dân phố Liên Hải (phường Hải Bình), treo nhiều ảnh của hai ông bà. Thấy chúng tôi chú ý đến tấm ảnh đen trắng chụp những nữ du kích tải đạn hướng ánh nhìn ra biển, bà tự hào chỉ cô gái áo trắng trong ảnh, bảo đó là mình.
Nhắc về bức ảnh thời con gái, đôi mắt bà ánh lên niềm vui. Bà kể, một người đã gửi tặng bà hình ảnh trích từ bộ phim tư liệu lịch sử “Hon Me Island in Wartime: The Heroic Little Island” (Đảo Mê thời chiến tranh: Hòn đảo nhỏ anh hùng). Bà đem rửa, ép lụa thành nhiều bản. Tuổi trẻ bên đồng đội được lưu lại trong khuôn hình ấy, từ dáng vẻ đến ánh nhìn, khiến chuyện hơn nửa thế kỷ trước như gần lại.
Bà cười hóm hỉnh: “Xưa bà đẹp gái lắm đấy nhé! Lại nhanh nhẹn, tháo vát, khỏe mạnh nên đi đâu ai cũng quý, lính đảo thương bà nhiều lắm...”. Nói rồi, bà khẽ tặc lưỡi, dõi mắt nhìn ra khoảng sân nắng: “Ngoảnh đi ngoảnh lại đã già mất rồi, hơn nửa thế kỷ trôi qua còn gì...”.
Theo câu chuyện của bà, chúng tôi trở về những năm tháng 10 cô gái Hải Bình cùng làm nhiệm vụ tiếp tế cho bộ đội trên đảo Hòn Mê và các lực lượng trực chiến trên đất liền.

Bà Hoàng Thị Thá xem lại những trang viết tay được lưu giữ tại nhà riêng.
Theo Địa chí xã Hải Bình, ngày 5/8/1964, máy bay Mỹ đánh phá đảo Mê và Lạch Trường. Nằm trên tuyến giao thông đường thủy Bắc - Nam, đồng thời là nơi tập kết hàng hóa, vũ khí phục vụ bộ đội trên đảo Mê, Hải Bình trở thành mục tiêu đánh phá. Giữ đường tiếp tế từ đất liền ra đảo vì thế là công việc vừa cấp thiết vừa đầy hiểm nguy.
Tiểu đội nữ dân quân du kích tải đạn ra đảo Hòn Mê do Xã đội Hải Bình thành lập, gồm 10 cô gái tuổi mười bảy, mười tám. Bà Hoàng Thị Thá được giao làm Tiểu đội trưởng.
Để duy trì những chuyến hàng, người dân Hải Bình cùng góp sức, góp thuyền. Có ngày, hàng trăm người gánh nước xuống bến để chuyển ra đảo. Thuyền của ngư dân dành phần lớn thời gian chở hàng tiếp tế, kết hợp đánh bắt khi có điều kiện. Nước ăn, lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng cùng vũ khí, đạn dược, quân trang theo những chuyến thuyền ra Hòn Mê giữa các đợt đánh phá.
Trong lực lượng tiếp tế ấy có Tiểu đội nữ dân quân du kích tải đạn ra đảo Hòn Mê do Xã đội Hải Bình thành lập, gồm 10 cô gái tuổi mười bảy, mười tám. Bà Hoàng Thị Thá được giao làm Tiểu đội trưởng, cùng chị em tiếp tế cho bộ đội trên đảo và các trận địa pháo trên đất liền, trong đó có đồi Ông Mày.
Hàng từ xe tải chuyển đến, chị em cùng bốc dỡ, đưa vào nơi tập kết rồi chuyển xuống thuyền gỗ. Công việc được phân chia theo khả năng đi biển của từng người: người chịu được sóng thì theo thuyền, người ở lại chuẩn bị, bốc chuyển hàng. Bà Thá là một trong những người theo các chuyến ra đảo.
Tùy nhiệm vụ và điều kiện thực tế, thuyền đi ban ngày hoặc ban đêm. Những hôm biển động, thuyền nhỏ không thể ra khơi, việc vận chuyển phải chờ. Mỗi chuyến đi, chị em vừa gắng sức đưa hàng vượt sóng, vừa đối mặt với nguy cơ máy bay đánh phá. Ngoài tải hàng, tiểu đội còn thay nhau canh gác, trực chiến. Giờ ăn, giấc nghỉ cũng theo nhịp công việc ấy.
Có những hôm bão gió, sóng trùm qua mạn thuyền, nhưng bằng mọi giá, đạn và nước ngọt phải đến tay bộ đội trên đảo...
Bà Thá nhớ lại: “Thuyền gỗ nhỏ, đạn thì nặng. Mỗi thùng đạn nặng chừng 20-30kg, chị em tự mình vác, tự xếp lên thuyền. Đi đêm hoàn toàn không được bật đèn hay đốt lửa vì máy bay Mỹ soi rất kỹ. Chị em nín thở, căn theo hướng gió và kinh nghiệm biển cả mà chèo. Có những hôm bão gió, sóng trùm qua mạn thuyền, nhưng bằng mọi giá đạn và nước ngọt phải đến tay bộ đội trên đảo”.

Bà Hoàng Thị Thá, nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội nữ du kích tải đạn tiếp tế cho đảo Hòn Mê bên bức ảnh chụp mình thời con gái.
Hiểm nguy còn đến ngay tại nơi tập kết hàng. Có lần, máy bay Mỹ đánh trúng nơi chứa đạn, khiến lửa bùng lên. Bà Thá cùng những chị em có mặt vội dập lửa, chuyển các thùng đạn ra nơi an toàn. Kể đến đây, bà nhắc tên bà Quế, bà Phượng, nhớ cảnh mỗi người ôm, vác một thùng đưa ra ngoài, rồi những người khác đến hỗ trợ. Đã chuyển được bao nhiêu thùng, bà không còn nhớ. Chỉ nhớ khi làm xong, người gần như kiệt sức. “Lúc đấy chẳng nghĩ gì đâu”, bà kể. Trong phút gấp gáp, chị em chỉ lo đưa đạn ra khỏi nơi đang cháy.
Ân tình theo người lính trở về
Cũng như nhiều gia đình ở làng biển năm xưa, gia đình bà Thá là nơi bộ đội trú quân trước khi ra đảo làm nhiệm vụ. Những người lính từ quê xa đến, cùng ăn, cùng sinh hoạt với gia đình, dần thân thuộc như người nhà. Thấy các anh vất vả, sống xa quê, bà thương quý lắm. Rồi tình cảm ấy thành động lực để bà xung phong vào lực lượng nữ dân quân tải đạn. Qua những năm tiếp tế, trực chiến, bà còn cùng đồng đội trực tiếp cứu chữa người bị thương.
Trong những người từng gặp giữa bom đạn, có một người lính đã tìm lại bà sau nhiều năm mất liên lạc. Đó là ông Lê Văn Hải, lái xe vận chuyển đạn phục vụ đảo Hòn Mê, từng được bà cùng đồng đội đưa đi cấp cứu. Nhắc phút nhận lại nhau qua điện thoại, bà xúc động gạt nước mắt: “Anh Hải hỏi: ‘Có phải chị Thá đấy không?’. Khi biết đúng là tôi, anh khóc nấc lên. Anh ấy bảo: ‘Nếu không có chị Thá và chị em Hải Bình năm đó xé áo băng vết thương thì tôi đã chết lâu rồi’”.
![]()
Video: Bà Hoàng Thị Thá ôn lại kỷ niệm.
Theo lời bà kể, năm ấy, chiếc xe tải chở đạn do ông Hải điều khiển vừa xuống bãi tập kết thì bị bom Mỹ đánh trúng buồng lái. Người lính bị thương nặng, máu chảy đầm đìa, mắc kẹt trong cabin đang cháy. Bà Thá cùng một nữ đồng đội xông vào kéo ông ra ngoài, xé vạt áo để băng vết thương rồi đưa ông đến trạm xá cấp cứu. Những ngày sau đó, bà thức trắng nhiều đêm chăm sóc ông, trước khi ông được chuyển lên tuyến trên.
Khi ấy, bà chưa biết đầy đủ quê quán, gia đình người mình cứu, cũng không rõ ông được chuyển đến đâu. Người lính tiếp tục điều trị, những cô gái ở lại làm nhiệm vụ. Họ mất liên lạc suốt nhiều thập niên. Người phụ nữ cùng bà cứu ông Hải sau này cũng đã qua đời.
'Có phải chị Thá đấy không?'. Khi biết đúng là tôi, anh khóc nấc lên. Anh ấy bảo: ‘Nếu không có chị Thá và chị em Hải Bình năm đó xé áo băng vết thương thì tôi đã chết lâu rồi’.
Về phần ông Hải, ký ức về những người cứu mình vẫn theo ông qua năm tháng. Trở về với cuộc sống đời thường, lập gia đình, sinh sống tại phố Phạm Văn Đồng (Hà Nội), ông luôn mong tìm lại những nữ dân quân Hải Bình năm xưa. Ông vẫn thường kể với vợ con về những nữ dân quân năm xưa, những người đã giúp mình sống sót để có ngày trở về, gây dựng gia đình. Rồi dần dà, nhờ người quen và các đầu mối ở địa phương, cuối cùng ông liên hệ được với con gái bà Thá.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, người lính lái xe đã già, cô gái tải đạn cũng đã có con cháu quây quần. Biết người được mình cứu năm xưa vẫn khỏe mạnh, vẫn nhớ và tìm lại nói lời tri ân, bà Thá mừng mừng tủi tủi. Bà càng thêm nhớ người đồng đội nữ năm xưa đã không còn để đón nhận niềm vui hội ngộ.

Bà Hoàng Thị Thá trong căn nhà nhỏ ở tổ dân phố Liên Hải, phường Hải Bình.
Từ cuộc gọi nối lại liên lạc, hai gia đình thường xuyên qua lại, thăm hỏi. Ân nghĩa thời chiến trở thành sợi dây gắn kết từ quá khứ đến hiện tại của hai gia đình.
Trong căn nhà nhỏ, bà vẫn nâng niu những tấm ảnh tư liệu, bộ hồ sơ thời chiến. Mười cô gái trong tiểu đội ngày ấy nay chỉ còn 4 người, đều đã ở tuổi “xưa nay hiếm”. Bà mong được cùng những đồng đội còn sống trở lại Hòn Mê, nhìn hòn đảo sau bao năm đổi thay, thăm nơi những chuyến hàng năm xưa từng hướng đến. Chị em tuổi cao, sức khỏe giảm, nên bà mong chuyến đi có thể thực hiện khi mọi người còn đủ sức.
Họ tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, gặp nhau trong tổ chức Đoàn, rồi nên vợ nên chồng giữa khói lửa chiến tranh. Đó là câu chuyện có trong bài viết sau, về bà Hoàng Thị Ninh - nữ dân quân du kích Hải Bình cảm tử phá bom. |
Tăng Thúy





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu