Giải quyết tranh chấp - chuyện khó thành dễ
Kinh tế phát triển đã kéo theo sự gia tăng số lượng vụ việc tranh chấp dân sự trong xã hội với tính chất ngày càng phức tạp. Với nhiều cách làm hiệu quả, phát huy tinh thần trách nhiệm của mỗi thẩm phán, hòa giải viên, nhất là chú trọng hòa giải đối thoại, việc giải quyết loại án này đã thành công ngoài mong đợi.

Thẩm phán Tòa án Nhân dân khu vực 3 tổ chức hòa giải giữa các đương sự trong vụ việc tranh chấp dân sự.
Vụ án dân sự được hiểu là vụ án liên quan đến tranh chấp quyền và lợi ích hợp pháp giữa các cá nhân, tổ chức xảy ra trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Theo báo cáo của Tòa án Nhân dân tỉnh, các vụ việc tranh chấp dân sự mà tòa thụ lý không ngừng tăng qua các năm với tính chất ngày càng phức tạp. Cụ thể, năm 2022 tòa thụ lý 9.410 vụ việc, tăng 11,6% so với năm 2021. Năm 2023, số vụ việc mà tòa thụ lý thuộc diện này đã tăng lên 9.725 vụ (tăng 3,3%). Năm 2025, con số này là 10.638 vụ việc, tăng 9,7% so với năm 2024.
Thực tiễn giải quyết loại án này trong thời gian qua cho thấy, hầu hết tranh chấp dân sự mà tòa tiếp nhận, thụ lý thường có tính chất phức tạp, phát sinh mâu thuẫn kéo dài, các bên đã chủ động giải quyết nhiều lần nhưng chưa đạt được đồng thuận. Cá biệt có nhiều vụ tranh chấp tài sản là đất đai, tài sản thừa kế, nảy sinh từ trong gia đình, dòng họ, làng xóm, tích tụ từ lâu dẫn đến xô xát, ẩu đả, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Tiến độ giải quyết án thường gặp rất nhiều khó khăn do một số cơ quan, đơn vị chưa đề cao trách nhiệm phối hợp với tòa án trong xác minh thu thập, đánh giá chứng cứ, định giá tài sản tranh chấp. Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật, đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ chứng cứ, tài liệu cho tòa án, nhưng trên thực tế người dân rất khó tiếp cận và khai thác thông tin từ cơ quan nhà nước để chứng minh cho việc khởi kiện của mình là đúng... Trong khi đó, thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, khối lượng công việc liên quan đến bố trí cơ sở vật chất, sắp xếp cán bộ, công chức và điều kiện làm việc là rất lớn, đặt ra nhiều thách thức, khó khăn cho tòa án hai cấp trong nỗ lực hoàn thành chỉ tiêu được giao trong xét xử, giải quyết án.
Trong bối cảnh đó, Đảng ủy, lãnh đạo Tòa án Nhân dân tỉnh đã tổ chức thực hiện đồng bộ, quyết liệt nhiều nhiệm vụ, giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết án nói chung và án dân sự nói riêng. Trong đó, chú trọng công tác hòa giải, đối thoại, nhằm tuyên truyền, giải thích pháp luật, phân tích đúng sai, được mất, tạo điều kiện để các bên đương sự tự định đoạt tranh chấp. Trên thực tế, giải pháp này đã và đang phát huy hiệu quả thực chất, giải quyết kịp thời, triệt để nhiều tranh chấp phức tạp trong Nhân dân.
Như trong vụ việc tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất rừng sản xuất xảy ra tại thôn Cây Xe, xã Thọ Bình mà Tòa án Nhân dân khu vực 3 thụ lý. Nguyên đơn của vụ việc là vợ chồng ông Hà Văn P. (SN 1971), bà Nguyễn Thị H. (SN 1972) khởi kiện vợ chồng ông Lò Văn S. (SN 1961), bà Hà Thị T. (SN 1969) ở cùng thôn do chiếm quyền sử dụng 8.700m2 đất rừng sản xuất của gia đình. Vụ việc tưởng chừng như rất đơn giản, song quá trình giải quyết gặp rất nhiều khó khăn. Một phần là do đất được giao từ năm 1995 không có tọa độ để xác định ranh giới, lại cách xa khu dân cư, phần do từ thời điểm được giao đất đến lúc khởi kiện, nguyên đơn không canh tác, nên không biết rõ ranh giới đất. Trong khi đó, thửa đất bị tranh chấp nằm giáp ranh với khu đất của bị đơn, trình độ hiểu biết pháp luật của hai bên đương sự còn nhiều hạn chế. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn đã trồng keo trên toàn bộ diện tích đất tranh chấp, sắp đến kỳ thu hoạch. Xác định rõ nội dung, tính chất tranh chấp, Thẩm phán Lê Thị Thủy đã nhiều lần đến khu vực đất tranh chấp tổ chức tuyên truyền, giải thích pháp luật và phân tích đúng sai cho các bên đương sự. Đồng thời phối hợp với chính quyền, các tổ chức chính trị, dòng họ để vận động, thuyết phục hai gia đình tự định đoạt tranh chấp. Kết quả là vụ việc được Tòa án Nhân dân khu vực 3 giải quyết bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận mà không phải mở phiên tòa xét xử. Ông Hà Văn P. đồng ý để gia đình ông Lò Văn S. tiếp tục trồng keo sau 2 năm, thu hoạch xong phải trả lại quyền sử dụng đất cho mình.
Tại Tòa án Nhân dân khu vực 5, Chánh án Lường Thị Hoa chia sẻ: "Công tác hòa giải, đối thoại vừa đảm bảo quyền quyết định, tự định đoạt của đương sự, giải quyết triệt để các tranh chấp trong xã hội, vừa tạo thuận lợi cho việc thi hành án, hạn chế tối đa việc kháng cáo, kháng nghị, rút ngắn thời gian giải quyết án, vừa góp phần củng cố, tăng cường tình đoàn kết trong Nhân dân. Do vậy đơn vị đã xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá, để quyết liệt triển khai thực hiện nhằm nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết án".
Nhờ đó, năm 2025, Tòa án Nhân dân khu vực 5 đã giải quyết, xét xử 730 vụ, việc dân sự trong số 750 vụ, việc thụ lý, đạt tỷ lệ 97,3%, vượt 12,3% chỉ tiêu thi đua của Tòa án Nhân dân tối cao đề ra. Trong đó, tòa đã hòa giải thành, quyết định công nhận giải quyết 33 vụ tranh chấp dân sự, hòa giải để 90 cặp vợ chồng có đơn khởi kiện trở lại chung sống với nhau và hòa giải để công nhận thuận tình ly hôn của 244 vụ.
Theo báo cáo của Tòa án Nhân dân tỉnh, bằng việc tổ chức thực hiện quyết liệt, toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp, trong năm 2025, tòa án hai cấp đã giải quyết, xét xử 10.006 vụ, việc trong tổng 10.638 vụ, việc dân sự thụ lý, đạt tỷ lệ 94%, cao hơn năm trước 5,4%. Đây là kết quả nổi bật chưa từng có trong nhiều năm qua. Đáng chú ý, tòa đã hòa giải thành 6.786 vụ, đạt tỷ lệ 67,8%, nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước.
Bài và ảnh: Đồng Thành





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu