1.Hải về đến phòng trọ khi hoàng hôn phủ lên thành phố một màu vàng rực tựa như lửa nhà ai chiều hôm cơi bếp ấm. Một buổi chiều lạ lùng và dao dác. Người xe hối hả xuôi ngược khắp mọi ngã đường.

Tin liên quan

Đọc nhiều

Từ trong bình yên

1.Hải về đến phòng trọ khi hoàng hôn phủ lên thành phố một màu vàng rực tựa như lửa nhà ai chiều hôm cơi bếp ấm. Một buổi chiều lạ lùng và dao dác. Người xe hối hả xuôi ngược khắp mọi ngã đường.

Dãy phòng trọ nằm sâu trong cái xóm nhỏ chằng chịt nối từ hẻm này sang hẻm khác. Xóm của dân ngụ cư. Tứ chiếng tựu về, những phận đời bôn ba xa xứ tha hương mưu sinh trên đất Sài Gòn. Thoảng khi gặp nhau gật đầu chào một cái lấy lệ, mạnh ai nấy bươn chải, thời gian đâu dòm ngó phận đời khác. Đất này, nghỉ một nhịp lấy hơi đôi khi người ta đi cả quãng đường dài rồi. Đất này chẳng thể ở không, sáng banh mắt ra là lao vòng xoáy bộn bề cơm áo gạo tiền. Chiều tối len lỏi trong đám đông kẹt xe ken cứng, tiếng còi bấm náo loạn, khói bụi mịt mùng về đến nhà thể như chẳng còn một chút hơi sức mà làm việc gì. Tới tháng, nào là tiền phòng, tiền điện, tiền nước... Hàng trăm thứ chi phí để đồng lương từ tay này chuyền sang tay kia là bay cái vèo hết. Còn nhiều lắm những toan tính cho cuộc mưu sinh thì dịch bệnh tràn qua thành phố. Lệnh giãn cách khiến ai nấy đều lo âu thấp thỏm. Những con người hằng ngày chạy đua với cơm áo, gạo tiền, nay vì dịch COVID-19 mà gánh nặng đè vai, gồng mình chống chọi.

Hơn bảy giờ tối thì dãy phòng trọ gần như có mặt đầy đủ, tiếng rì rào bàn tán bắt đầu lan dần, tiếng í ới nhau hỏi thăm tình hình, tiếng thở dài thườn thượt xen lẫn những băn khoăn, trăn trở: Về hay ở? Giữa những lúc gian nan này cầm cự bao lâu? Cơn dịch nguy biến khôn lường, đã một lần giãn cách, đám nhà trọ như Hải cũng đủ thấu hiểu cái khốn khó của những ngày bó gối quẩn quanh với bốn bức tường, những bữa cơm thiếu dần rau, thịt. Ở Sài Gòn này, một ngày không kiếm ra được tiền, là một ngày trôi qua trĩu trịt trên đôi vai người lao động.

Gì chứ cái xóm trọ cứ thủ thỉ chuyền tay nhau năm ba trăm ngàn đồng cứu nhau lúc chưa kịp kỳ lương, hay những phút ngặt nghèo tiền gởi về quê chẳng đủ. Xóm trọ hai chục phòng, có phòng là cả gia đình nắm níu nhau từ Nghệ An vào đây, có phòng thì mấy cậu sinh viên ngoài Bắc, có phòng thì mấy cô miền Trung năm bảy tỉnh tụ lại ở chung đi bán đồ ăn vặt linh tinh trên mấy cái mẹt, cái nia. Hai chục căn phòng gói gọn nhiều mơ ước, nhiều phận đời. Mà phận đời nào đem ra kể cũng dài lướt thướt như mấy đại lộ hào nhoáng vừa mới xây xong của Sài Gòn.

Mấy bà cô bán mẹt ngồi thở dài ở căn phòng trọ cuối. Tiếng rổn ráng khiến dãy nhà trọ cũng lú đầu ra.

- Khổ rồi mấy bà ơi! Nghe đâu kỳ này cấm bán rong, đi lang thang là họ bắt nhốt.

- Trời! chẳng cho bán thì tiền đâu mà sống.

- Bệnh như ri mà bán bán cái chi? Về không? Hay ở đây?

Mỗi bà một câu, rôm rả xôm tụ nhưng chẳng ai trả lời được câu hỏi cuối. Câu hỏi ngay cả đám nhà trọ nghe lỏm xong cũng quay sang nhìn nhau rồi lặng im! Dãy nhà trọ toàn tiếng thở dài chìm dần từ từ vào đêm. Đêm đầu tiên giãn cách, giấc ngủ của Hải chập chờn những con sóng biển, về vùng đất biển Do Xuyên - Ba Làng, thấy chênh chao nhớ mùi nước mắm đã quyện vào năm tháng tuổi thơ.

2. Mẹ Hải là con gái nhà nông, lấy bố Hải là chàng trai làng biển. Cuộc sống người đất biển nghèo nhiều nỗi khó khăn. Thời đó, gái trai làng biển bỏ xứ lên Hà Nội, hay đi Sài Gòn để tìm kiếm cuộc đổi đời cũng nhiều. Làng xóm cứ thưa thớt dần. Bố cũng chỉ nghĩ giản đơn mình suốt ngày bán mặt cho sóng bán lưng cho trời. Học hành một chữ bẻ đôi chẳng biết, ráng lắm cũng nguệch ngoạc được cái tên, nên chắc chẳng có con gái nào ưng. Nào ngờ cái chất phác, hiền lành của bố Hải lại khiến mẹ và cả gia đình thương mến, cảm tình.

Ngoại nói mẹ làm vợ bố đi. Cái thằng cù lần nhưng được cái thật thà. Có gì khai hết chẳng giấu. Lại thêm suốt cả ngày ở đây chứ chẳng dám nhìn lấy mẹ một lần. Chỉ len lén ngó lên, gặp ánh mắt ông ngoại thì lại cụp xuống. Khác xa mấy đám trước, bê tráp qua mà mắt liếc dọc liếc ngang mẹ. Hồi ấy, làng bảo ngoại dở hơi, gả con gái chi cho cái đất biển nghèo ấy, nắng gió biển làm đàn bà sạm da, thô kệch. “Đàn ông đi biển có đôi/ Đàn bà đi biển mồ côi một mình”. Đôi khi ôm mộ gió mà khóc. Mẹ Hải tuy chẳng phải sắc nước hương trời, nhưng có ăn học đàng hoàng, tính tình dịu dàng, miệng cười tươi tắn lại đảm đang, tháo vát. Ông ngoại cứ cười hề hề. Hỏi mẹ ưng không? Mẹ chẳng nói gì, chỉ bảo cho mẹ năm bảy ngày suy nghĩ.

Nhưng đâu chừng ba hôm sau, mẹ một mình về Ba Làng tìm bố. Mới sáng thuyền về, bố đang bốc mấy thùng cá xuống bãi. Mẹ đứng từ xa nhìn bố, thân ảnh đen trùi trũi, vạm vỡ, đang luyên thuyên với mấy chị, mấy cô thì nhác thấy bóng mẹ. Bố khựng lại rồi chầm chậm bước tới.

Bố dẫn mẹ lang thang ven biển, cặp mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ, nhưng bố cứ nằng nặc chẳng để mẹ về. Cứ ngồi đó mà nhìn sóng biếc xanh rì rào vỗ bờ. Bố chẳng nói gì, ậm ờ trong miệng. Thỉnh thoảng len lén nhìn mẹ rồi lại mông lung mây trời xa thẫm. Mẹ hỏi bố chỉ một câu:

- Con gái nhà nông chưa quen việc cá mắm, sợ không biết việc, không phụ được chồng, nhà chồng, anh chịu không?

- Làm vợ xứ biển cực lắm em chịu được không?

Bố chẳng trả lời mẹ mà ngập ngừng hỏi lại. Mẹ cũng chỉ lặng im nhưng xem chừng “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Bố đưa mẹ đi thăm thú một vài cảnh đẹp của thị xã Nghi Sơn. Biện Sơn – một vùng danh lam thắng cảnh, lịch sử - văn hóa, chùa Am Các, biển Hải Hòa rì rào sóng vỗ... Bố dẫn mẹ đến bên giếng Ngọc, xã đảo Nghi Sơn, múc gầu nước uống chung mong cho gắn bó mãi, trọn đời phải thương nhau mà sống. Cực khổ gì cũng phải chung lòng chịu đựng. Giếng Ngọc gắn với câu chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thủy, chẳng biết linh nghiệm ra sao nhưng hễ ai trong làng có điều gì đó trúc trắc thì cứ ra giếng mà tắm gội, mà múc nước uống, những âu lo muộn phiền cũng được gột rửa hay tưới mát cho một niềm tin dạn dĩ, tình yêu lâu bền.

Vậy là mẹ về với bố. Bằng tất cả tình yêu với bố, với mảnh đất Ba Làng, mẹ Hải chuyên tâm học nghề làm nước mắm truyền thống. Vững tay nghề, hai vợ chồng trẻ mạnh dạn bắt tay làm cái xưởng nước mắm, kế thừa truyền thống cha ông. Bố đi biển, mẹ ở nhà ủ mắm. Đời cần lao theo mùa gió cát, theo mùa sóng biển. Năm Hải lên sáu là bố mất hút theo cơn bão số 10 đánh tan nát xứ biển. Mẹ chỉ vừa tượng hình đứa con thứ hai.

3. Dãy nhà trọ dắt díu nhau đi qua mới hơn một tuần giãn cách đã thấm đòn mùa dịch. Ca nhiễm bệnh càng tăng cao khiến mọi người hốt hoảng. Đám phòng số 6 chiều ghé ngang hỏi Hải, tìm đường về đi anh, ở đây mình chẳng sống nổi. Phòng số 7 đối diện chợt ló đầu ra ngập ngừng, hay mình tìm bao một chuyến xe về chung cho an toàn. Tính qua tính lại cũng cả hai chục người Thanh Hóa tụi mình trong này. À hay mình kết hợp mấy cô Nghệ An ở phía dưới chung đường về nè. Xe đến tỉnh nào thả người tỉnh đó. Cả dãy phòng trọ lại xôn xao ló đầu ra nhìn nhau. Nhưng mình từ vùng dịch đi qua các chốt như thế nào? Rồi về đến tỉnh ra làm sao? Lại thêm nhiều câu hỏi bàn ra. Không khí đang trầm mặc thì cô chủ nhà ghé sát vào cổng rào, mang khẩu trang, đeo kiếng chống bắn giọt, nói rõ to:

- Khu phố vừa có ca nhiễm bà con ơi. Họ vừa kéo rào phong tỏa, chiều tối nay tập trung lấy mẫu xét nghiệm.

Bất giác nhiều tiếng “trời ơi” vang lên. Dãy phòng trọ nhốn nháo kẻ đi kiếm khẩu trang, người ngồi canh lại gạo thịt trong nhà, mấy cô buôn gánh bán bưng thở dài thườn thượt, than mình già vậy lỡ mắc bệnh chắc hết đường sống. Tiếng khóc rấm rứt khiến Hải thêm não lòng.

Hòa điện thoại ngay lúc Hải đang xếp hàng chờ lấy mẫu xét nghiệm nhanh. Hòa bảo mẹ kêu anh về, trên ấy dịch căng lắm về với mẹ. Có gì thì cũng phải ở nhà. Có gì là có gì? Câu nói của Hòa là nỗi ám ảnh của mẹ từ chiếc mộ gió của bố.

Thêm mấy ca từ trong khu phố bị đưa đi xét nghiệm nhanh cho kết quả dương tính với COVID-19. Khu phố chính thức nhận lệnh phong tỏa. Dãy nhà trọ lục tục kéo về, may quá chẳng ai bị. Mấy cô phòng cuối mừng mà mắt đỏ hoe. Lơ lửng trên đầu mọi người là câu hỏi về những ngày sau. Rồi sao sống? Rồi ăn cái gì? Xóm nghèo nương theo bơ kênh lây lắt toàn những thân phận làm bữa nào xào bữa đó. Cái nghèo nó kèm theo cái đói ngay mùa dịch giã. Số ca nhiễm đã hơn ba ngàn, tiếng thở dài não nề hơn trong cái xóm trọ của Hải.

Đêm nay thành phố phong tỏa. Hải chẳng tài nào chợp mắt. Dãy nhà trọ nhiều phòng vẫn sáng đèn. Đêm lặng gió. Nhưng lòng người đầy biến động.

4. Mỗi một năm cứ ngay ngày giỗ bố, mẹ lại lặng lẽ ngồi suốt trên bãi. Ngay cái chỗ mẹ Hải vẫn thường ngồi đợi bố trở về sau những chuyến biển. Bà ngồi từ buổi hoàng hôn dát vàng sóng biển cho đến lúc biển đen kịt chẳng thấy được đâu là biển đâu là đêm. Mấy lần nội bảo mẹ Hải đừng ra biển nữa, đừng trông chờ xa khơi, đừng nhìn sóng nữa. Sóng nó đánh bạc đầu lúc nào chẳng hay.

Có lần, nội bảo mẹ cứ tự do, đến được với ai thì đến, mới hơn ba mươi mà, cứ để hai đứa nhỏ lại rồi đi. Khi nhớ thì về. Mẹ còn trẻ lắm. Mẹ cười buồn lắc đầu.

- Trẻ gì nữa đâu! Hai đứa con còn nhỏ quá, mất cha rồi chẳng có mẹ chăm sóc, tội lắm! Con uống nước giếng Ngọc với ai thì con theo người đó suốt đời.

Nội thôi chẳng còn nói mấy chuyện của mẹ trên mâm cơm chiều nữa. Xưởng nước mắm ngày càng lớn dần ra. Chú Út sau mỗi lần đi thuyền lại về cùng mẹ hì hục ủ cá. Hai anh em Hải cứ thế lớn dần lên theo mỗi mùa gió thổi cát bay mịt mùng xứ biển. Mấy mối lái ghé nhà, nội giục chạc chú Út đến rát cổ thì cũng nhận lại cái lắc đầu. Làm dâu xứ biển nghiệt lắm. Để tui sống một mình tui còn lo cho cả nhà này.

Chú Út quần quật suốt ngày, bao nhiều tiền hàng cũng đem về đưa cho mẹ Hải. Năm ba hôm mới xin lại một ít mua thuốc hút. Mẹ bảo chú Út cứ cất riêng tiền đi thuyền, còn có cái sau này lập gia đình. Chú lắc đầu, đi về phía biển. Chị giữ đó mà chi tiêu trong nhà, dư thì để lo cho hai đứa nhỏ.

Những ngày chú Út đi biển, mẹ Hải hay thắp hương vọng bố trên bàn thờ. Tiếng kinh cầu lầm rầm rất lâu. Duy chỉ có một lần Hải nghe được lời mẹ cầu. Trận bão bất ngờ đổi hướng khiến nhiều tàu thuyền bị đánh rã nát. Mẹ nghe tin từ các đồng chí biên phòng báo không thể liên lạc được tàu của chú Út. Mẹ lại vọng bàn thờ bố. Mẹ thủ thỉ nói bố có thương thì soi đường dẫn lối cho chú Út an lành. Mẹ khóc bảo bố phải cứu chú Út. Xảy cha còn chú mà bố tụi nhỏ ơi! Đêm ngủ không yên, mẹ trở dậy, giữa cơn mưa nặng hạt, mẹ giặt sạch bộ đồ cho chú Út. Mẹ bảo về mặc đồ nè Út.

Trưa hôm sau bão tan, các đồng chí biên phòng báo đã tìm được tàu chú Út. Lần đầu tiên sau nhiều năm bố mất, Hải mới thấy mẹ cười mừng đến thế. Chiều hoàng hôn đã thấy mẹ ra bãi đứng chờ. Mẹ bảo Hải đời đàn bà xứ biển này sinh ra đã khoác lên mình cái số phận chờ đợi. Chẳng ai tránh khỏi. Vậy nên ngày chú Út chở Hải ra bến xe lên Sài Gòn học. Mẹ đứng ngoài cửa chờ cho bóng Hải khuất dần, khuất xa và hun hút.

Mẹ ít khi giục Hải về, mẹ bảo đàn ông cứ đi đâu thì đi, nơi nào thích ở thì đến, nhưng chẳng phải nơi nào cũng có thể là quê. Có gì thì cũng về với xứ mình nha con. Nhưng giờ thì với những người đang nhọc nhằn cuộc mưu sinh nơi thị thành này, đường về nó nhiêu khê hơn bao giờ hết.

5. Có tiếng đập cổng rào ì đùng. Mới hơn tám giờ sáng, đám nhà trọ vẫn ngơ ngác chưa kịp hiểu gì hết thì đã nghe oang oang ngoài cổng giọng cô chủ nhà. Bà con tập trung giúp tui cái nè! Mỗi người một phần gạo, mì gói, rau củ, chút cá, với mấy món đồ khô nhen. Phòng nào có em bé thì lấy thêm hai lốc sữa. Phòng nào có đông người thì lấy hai phần nhen. Của ít lòng nhiều. Đây là đồ của mấy đoàn gởi tặng xóm nghèo tụi mình. Còn tui thì thôi bà con cứ ở đây yên tâm, tiền phòng tháng dịch không tính. Điện nước tui lo luôn. Mình giờ cứ thương nhau mà sống bà con ơi!.

Tiếng vỗ tay lốp bốp vang đều lên trong dãy nhà trọ. Cổng rào mở ra. Xếp hàng giãn cách, tự giác đeo khẩu trang, từng phòng nghiêm ngắn lấy phần mình.

Cô chủ nhà đứng đó mắt đỏ hoe. “Nè bà con, tui hổng có trao tận tay hổng phải tui coi thường bà con mà mình an toàn nhen bà con” - cô chủ nhà thân tình nói. “Ai thiếu gì thì cứ ra cửa kêu hay điện thoại tui, cái nào tui cho được tui cho. Đừng ai nói thiếu tiền nhen! Mùa này cả xóm thiếu hết hổng riêng bà con” - vậy là cả xóm trọ cười vang, nhẹ nhõm, mừng mừng tủi tủi.

Nhận được đồ tiếp tế, chẳng nhiều nhặn gì đâu mà ai ai cũng thấy ấm lòng, thấy mình vẫn được nhớ đến, “không bị bỏ lại phía sau”. Bỗng trong dòng người thấy có tiếng reo lên:

- Trời có nước mắm Do Xuyên - Ba Làng đâu ra vậy cô?

- Ủa có gói miến của bà con Thanh Hóa gửi vào nè mấy đứa, có cái tem dán bên ngoài nè, ghi “Hướng về thành phố mang tên Bác” đó!

“Mấy người nhận đồ tiếp tế trước đó cũng háo hức dở ra coi. Thôi thôi tụi bây la cho lớn người ta bu vô xin thì tao không có cho đâu” - cô chủ nhà mắng nhẹ. “Ông chồng tao ổng người Thanh Hóa bây ơi. Ổng vô đây cái ổng mê nhan sắc gái Sài Gòn ổng bị tao dụ ở đây luôn đó nhen. Bữa ổng nghe tao than đám phòng trọ bị phong tỏa hổng biết tính sao. Ổng vận động hội đồng hương trong này quyên góp để gởi tặng trăm phần cho khu mình đó” - cô chủ nhà hào hứng kể. Từ từ còn nữa rồi mình chia nhau sau. Nhớ quê thì thèm vị mà bây! Sài Gòn hổng có bỏ rơi ai đâu. Đất xa nhưng người hổng lạ nghen bà con!... Hạnh phúc đong đầy từ những điều giản đơn, gần gũi như thế!

Cổng rào khép lại, đám nhà trọ nhìn nhau cười mà nước mắt rơi. Có người không kìm lòng được, đổ chút nước mắm Do Xuyên - Ba Làng ra nhấm nhấm nơi đầu lưỡi rồi chép miệng tận hưởng hương vị, thấy trào dâng nỗi niềm thương nhớ quê hương.

Hải đứng nhìn chai nước mắm trong tay. Hương vị nước mắm của quê hương mình, tuổi thơ mình đong đầy ở đó, nơi Sài Gòn cách biệt hàng nghìn cây số này, giữa “cơn bão” COVID-19 đầy tai ương. Nước mắt rơi tự lúc nào. Vậy là có mẹ kề bên rồi. Giãn cách chứ đâu thể chia cách con người ta được, phong tỏa giới nghiêm nhưng chẳng thể nào giới hạn lại lòng người ta được. Sài Gòn chẳng có gì, chỉ mỗi tình người đùm bọc mấy đứa lưu dân trên mảnh đất này giữa cơn nguy nan. Và quê nhà cũng luôn nhớ về những đứa con xa xứ. Hải cũng chẳng cần gì to lớn lúc này hết, chỉ cần thấy mẹ cạnh bên mình, vậy đã là bình yên giữa trùng dương sóng gió. Bình yên tự trong niềm thương mẹ nhớ quê.

Tống Phước Bảo



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name}- {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]