(Baothanhhoa.vn) - Quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, vận dụng sáng tạo, phát triển Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Ðảng.  Ðổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”...

Tin liên quan

Đọc nhiều

5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng - Bài 3: Thành tựu đổi mới

Quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, vận dụng sáng tạo, phát triển Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Ðảng. Ðổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”...

5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng - Bài 3: Thành tựu đổi mớiNhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Ảnh: tư liệu

Tin liên quan:
  • 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng - Bài 3: Thành tựu đổi mới
    5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng - Bài 2: Vững niềm tin theo Đảng

    Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng công tác xây dựng Đảng, nhất là đạo đức trong Đảng. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ 2015-2020, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt đã thực sự tạo được niềm tin trong Nhân dân, góp phần củng cố, xây dựng tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Chủ trương đổi mới đã được Đảng ta đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Đến nay, sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử: đất nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, với một nền kinh tế thị trường năng động, hội nhập mạnh mẽ. Tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng và vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 đã đánh giá như sau:

Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn điện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Theo GS, TS Vũ Văn Hiền, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương: “Sau 35 năm, đất nước đã đạt được những kết quả thiết thực, mà trước hết là đổi mới tư duy để khắc phục được nhận thức lệch lạc, nhất là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, vì thế vai trò lãnh đạo của Ðảng càng được tăng cường, định hướng XHCN được giữ vững, hình thành quan niệm mới về mục tiêu, bước đi, cách thức phát triển đất nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội, kinh tế thị trường theo định hướng XHCN từng bước hình thành, phát triển”.

Trong suốt 35 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995 GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%.

Khi mới bước vào đổi mới, năm 1989 GDP Việt Nam mới chỉ đạt 6,3 tỷ USD, đến năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đã đạt 268,4 tỷ USD. Trong khu vực ASEAN, quy mô nền kinh tế Việt Nam hiện đã đứng thứ 4. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt: năm 1985 bình quân thu nhập đầu người mới đạt 159 USD, năm 2020 đã ước đạt 2.750 USD.

PGS.TS Nguyễn Viết Thông – Tổng Thư ký kiêm Ủy viên Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: “Như vậy so với trước đổi mới, quy mô nền kinh tế đã khác, “bộ mặt”, diện mạo nền kinh tế, cũng như đời sống Nhân dân đã khác... Đó chính là cơ đồ, tiềm lực, vị thế mà ngày nay Việt Nam đã gây dựng được”.

Ðổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay đã thành nước xuất khẩu gạo đứng ở tốp đầu thế giới. Đổi mới về tư duy kinh tế đã giúp cho môi trường đầu tư liên tục được cải thiện, nhờ đó đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển. Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn là một điểm đến tin cậy cho các nhà đầu tư với tổng vốn FDI đạt 28,5 tỷ USD.

“Dưới góc nhìn của người dân Nhật Bản, thành công của Việt Nam là rất thần kỳ và kỳ lạ. Việt Nam đã để lại ấn tượng trong cộng đồng quốc tế là đất nước an toàn, tiềm năng kinh tế lớn với lợi thế dân số đông” - ông Hiroyuki Moribe, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu kinh tế Việt Nam (VERI) của Nhật Bản, đã khẳng định như vậy khi trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN về việc Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng kinh tế tích cực bất chấp đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19.

Trong suốt quá trình đổi mới, việc tăng trưởng kinh tế đã cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Đặc biệt công tác giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005, 9,45% năm 2010, 7% năm 2015 và còn dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều).

Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam đã tạo ra một “câu chuyện huyền thoại” trong công cuộc giảm nghèo với chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) năm 2019 là 0,63, xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước, tức nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI) cao nhất trên thế giới.

Bên cạnh đó, công tác giáo dục, y tế đạt được nhiều thành tựu. Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển, cơ sở vật chất được nâng cao, chất lượng đào tạo từng bước đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cũng được chú trọng đầu tư, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám, chữa bệnh của Nhân dân... Việt Nam đã làm chủ được nhiều kỹ thuật công nghệ cao mang tầm thế giới, kiểm soát được nhiều dịch bệnh nguy hiểm, trong đó có COVID-19. Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện, nhất là các đối tượng chính sách, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần nâng đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng cao hơn.

35 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Đến nay, đã có 71 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Từ khi gia nhập WTO đến nay, Việt Nam đã ký kết 15 FTA khu vực và song phương và đang đàm phán 2 FTA với các đối tác khác.

Những kết quả, thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng quan trọng nhất là có sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy, tổ chức đảng, xử lý kịp thời, có hiệu quả nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn. Dấu ấn lãnh đạo của Đảng được thể hiện rõ nét thông qua các cương lĩnh, chiến lược và văn kiện chính thức các kỳ đại hội Đảng toàn quốc trong 35 năm qua, cũng như hàng loạt quyết sách quan trọng khác được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành.

Những kết quả, thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới cho thấy: Quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, vận dụng sáng tạo, phát triển Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Ðảng. Ðổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của Nhân dân, dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của Nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Ðổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra. Phải luôn coi lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định độc lập, tự chủ và đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước nhanh, bền vững. Phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đến công tác xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới.

Hành trình đổi mới với sự hài hòa giữa ý Ðảng với lòng dân đã và đang kết hợp cả ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, đặc biệt, trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, Cương lĩnh tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Việt Linh

Bài 4: Văn kiện Đại hội XIII của Đảng - sự kết tinh trí tuệ dân tộc và thời đại.



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name}- {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]