(Baothanhhoa.vn) - Ngày 29-9-2022, đồng chí Đỗ Trọng Hưng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã ký ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU về xây dựng và phát triển huyện Mường Lát đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Dưới đây là toàn văn Nghị quyết.

Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về xây dựng và phát triển huyện Mường Lát đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Ngày 29-9-2022, đồng chí Đỗ Trọng Hưng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã ký ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU về xây dựng và phát triển huyện Mường Lát đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Dưới đây là toàn văn Nghị quyết.

Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về xây dựng và phát triển huyện Mường Lát đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát.

1. TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN

Mường Lát là huyện miền núi cao biên giới, địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh của tỉnh và khu vực Tây Bắc của Tổ quốc; nơi sinh sống của đa số đồng bào các dân tộc thiểu số; có diện tích rừng tự nhiên lớn, đầu nguồn của hệ thống sông, suối, có vai trò quan trọng về phòng hộ, dự trữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái cho cả tỉnh.

Sau hơn 25 năm thành lập huyện, được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc huyện Mường Lát đã nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều kết quả. Kinh tế có bước phát triển. Sản xuất nông nghiệp chuyển biến tích cực, đã đưa một số cây trồng, vật nuôi, có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Lâm nghiệp phát triển cả trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh rừng; tỷ lệ che phủ rừng được nâng cao. Hệ thống dịch vụ, thương mại từng bước được mở rộng. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế. Văn hóa - xã hội chuyển biến tiến bộ, an sinh xã hội được bảo đảm, tỷ lệ hộ nghèo giảm, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện rõ nét. Quốc phòng - an ninh, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được tăng cường và đạt kết quả tích cực.

Tuy nhiên, hiện nay Mường Lát vẫn là huyện nghèo nhất của tỉnh và là một trong những huyện nghèo nhất cả nước; kinh tế phát triển chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với bình quân khu vực miền núi của tỉnh. Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là tự cung, tự cấp; chưa xác định được cây trồng chủ lực, phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng; chưa có nhiều con nuôi đặc sản để trở thành hàng hóa có giá trị. Hiệu quả kinh tế rừng thấp; việc trồng lại rừng sau khai thác còn chậm; một số nơi vẫn xuất hiện tình trạng người dân đốt rừng, phá rừng làm nương rẫy. Quy mô sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhỏ bé. Mạng lưới dịch vụ, thương mại phát triển chậm và chưa đồng đều. Thu ngân sách trên địa bàn rất thấp. Kết cấu hạ tầng còn thiếu và yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; một số công trình đầu tư dàn trải, dở dang, kéo dài nhiều năm, gây lãng phí nguồn lực. Mức hưởng thụ văn hóa, tinh thần của người dân còn thấp; nhiều phong tục, tập quán lạc hậu vẫn tồn tại trong sản xuất, đời sống của đồng bào các dân tộc. Chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục còn thấp; cơ sở vật chất, trang thiết bị của một số trường học, điểm trường còn thiếu, xuống cấp. Hoạt động của hệ thống y tế cơ sở, y tế thôn, bản chưa thật hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao, kết quả giảm nghèo chưa bền vững; đời sống của một bộ phận người dân còn nhiều khó khăn. An ninh trật tự trên địa bàn còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định; tội phạm và tệ nạn ma túy diễn biến phức tạp. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện nhiệm vụ của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể còn hạn chế.

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu là do: Mường Lát là huyện miền núi cao, địa hình phức tạp, chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, nhiều nơi đất đai bạc màu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và người dân còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, tự ty, cam chịu. Các cấp ủy đảng, chính quyền chưa chủ động, sáng tạo, quyết tâm, quyết liệt để tìm ra hướng phát triển sản xuất hiệu quả, phù hợp với điều kiện ở địa phương. Nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn hạn chế. Tập quán, trình độ sản xuất của người dân còn lạc hậu. Năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế; kỷ luật, kỷ cương hành chính có lúc, có nơi chưa nghiêm.

II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU

1. Quan điểm

Một là, xây dựng và phát triển huyện Mường Lát nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân, thu hẹp khoảng cách phát triển so với bình quân khu vực miền núi của tỉnh là nhiệm vụ hết sức quan trọng, không chỉ có ý nghĩa về kinh tế - xã hội, mà còn cả về chính trị, quốc phòng - an ninh, đối ngoại của tỉnh.

Xây dựng và phát triển huyện Mường Lát là trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc huyện Mường Lát, cùng với sự hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh và các địa phương, đơn vị trong tỉnh.

Hai là, khai thác và phát huy có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, tập trung phát triển kinh tế trên cơ sở lấy nông nghiệp, lâm nghiệp làm nền tảng, gắn với cơ cấu lại sản xuất theo hướng lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, tập quán sản xuất của người dân, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật; thu hút và phát triển hợp lý các ngành công nghiệp giải quyết nhiều việc làm, công nghiệp chế biến, nông lâm sản; mở rộng dịch vụ, thương mại ở những nơi có điều kiện.

Ba là, huy động, lồng ghép và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn ngân sách nhà nước để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, ưu tiên đầu tư hoàn chỉnh các công trình dở dang, công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, sinh hoạt của Nhân dân, công trình có tính kết nối liên bản, liên xã, liên huyện và tỉnh ngoài để tạo hành lang cho sự phát triển mới; coi trọng và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, các hệ sinh thái, chủ động ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu.

Bốn là, tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực trong đồng bào dân tộc thiểu số; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào, nhanh chóng xóa bỏ các hủ tục lạc hậu; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới; khơi dậy và phát huy tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên thoát nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc biên giới của Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Năm là, đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tạo chuyển biến rõ nét về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, trách nhiệm, am hiểu thực tiễn; ưu tiên tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số trên địa bàn; tăng cường củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân.

2. Mục tiêu đến năm 2030

2.1. Mục tiêu chung:

Xây dựng và phát triển huyện Mường Lát trên cơ sở phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của cán bộ, đảng viên và mỗi người dân, cùng với sự hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh và các địa phương, đơn vị trong tỉnh; tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu; phát triển nông nghiệp theo tiêu chuẩn VietGap, có một số sản phẩm đặc sản; khôi phục, bảo vệ và đẩy mạnh trồng rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững; phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm sản; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái; bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được bảo tồn và phát huy; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện và nâng cao; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố; quốc phòng - an ninh được giữ vững; tổ chức đảng và hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh; phấn đấu đến năm 2030 thoát khỏi huyện nghèo.

2.2. Mục tiêu cụ thể

2.2.1. Giai đoạn 2021 - 2025

- Các chỉ tiêu của giai đoạn 2021-2025: Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 10,2% trở lên; Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 3.500 tỷ đồng trở lên; Tỷ lệ tăng thu ngân sách bình quân hàng năm đạt 5% trở lên; Tổng sản lượng lương thực bình quân hàng năm đạt 13.000 tấn trở lên; Thành lập mới 25 doanh nghiệp trở lên; Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm 7% trở lên; Bình quân hàng năm kết nạp 60 đảng viên mới trở lên; Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ bình quân hàng năm đạt 80% trở lên.

- Các chỉ tiêu đến năm 2025: Thu nhập bình quân đầu người đạt 25 triệu đồng trở lên; Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn (không tính quốc lộ và tỉnh lộ) được cứng hóa đạt 75% trở lên; Có 02 xã và có thêm 20 bản đạt chuẩn nông thôn mới; Tỷ lệ che phủ rừng giữ ở mức 77%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50% trở lên; Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 40% trở lên; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 30%; Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế trên tổng số dân đạt 95% trở lên; Tỷ lệ hộ gia đình có nhà ở đạt tiêu chuẩn đạt 65% trở lên.

2.2.2. Giai đoạn 2026 – 2030

- Các chỉ tiêu của giai đoạn 2026-2030: Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 11,5% trở lên; Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 3.900 tỷ đồng trở lên; Tỷ lệ tăng thu ngân sách bình quân hàng năm đạt 5% trở lên; Bình quân hàng năm kết nạp 70 đảng viên mới trở lên; Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ bình quân hàng năm đạt 80% trở lên.

- Các chỉ tiêu đến năm 2030: Thu nhập bình quân đầu người đạt 35 triệu đồng trở lên; Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn (không tính quốc lộ và tỉnh lộ) được cứng hóa đạt 100%; Tỷ lệ che phủ rừng đạt 80%; Tỷ lệ hộ nghèo dưới 10%; Có 7/7 xã đạt chuẩn nông thôn mới (01 xã đạt nông thôn mới nâng cao), 02 bản đạt nông thôn mới kiểu mẫu; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 75% trở lên; Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 70% trở lên; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 25%; Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế trên tổng số dân đạt 95% trở lên; Tỷ lệ hộ gia đình có nhà ở đạt tiêu chuẩn đạt 80% trở lên.

3. Mục tiêu đến năm 2045: Kinh tế - xã hội, thu nhập bình quân đầu người của huyện Mường Lát đạt mức bình quân của các huyện miền núi trên địa bàn tỉnh.

III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tập trung tuyên truyền, vận động, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức, trách nhiệm, tinh thần tự lực, tự cường, chủ động vươn lên mạnh mẽ trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân các dân tộc huyện Mường Lát

Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể huyện Mường Lát tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương, chính sách của Tỉnh, nhất là các chủ trương, chính sách liên quan đến huyện Mường Lát.

Tập trung tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào dân tộc Mông thay đổi nhận thức, cách thức, chuyển từ tập quán sản xuất “tự cung, tự cấp” sang sản xuất “hàng hóa”; chủ động, tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế hộ, vươn lên thoát nghèo bền vững; không trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước; xóa bỏ tâm lý tự ti, cam chịu trong cán bộ, đảng viên và người dân.

Chủ động đấu tranh, phản bác; đồng thời, tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số không nghe theo các luận điệu xuyên tạc, kích động của kẻ xấu; không di cư tự do; không buôn bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng các chất ma túy; không theo các tà đạo, hoạt động tôn giáo trái pháp luật; không đốt rừng, phá rừng làm nương rẫy; không tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống...; chăm lo sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, tích cực tham gia thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân.

Công tác tuyên truyền, vận động phải được tiến hành bằng nhiều hình thức, phù hợp với từng đối tượng người dân, từng khu vực dân cư, như: tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua hệ thống đài truyền thanh cơ sở, thông qua các hội nghị, thông qua xây dựng và nhân rộng các mô hình ở thôn, bản,... Phát huy vai trò của các lực lượng tại cơ sở, nhất là Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, biên phòng, công an, quân sự, giáo viên, người có uy tín trong cộng đồng để tuyên truyền, vận động người dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hướng dẫn, giúp đỡ người dân lao động sản xuất, phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo bền vững.

2. Tăng cường khai thác và phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập của người dân

2.1. Rà soát, cập nhật, bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch theo mục tiêu, định hướng phát triển của huyện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặc biệt là quy hoạch sản xuất, quy hoạch lâm nghiệp

Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu, phong tục tập quán, trình độ sản xuất của người dân, phân chia 08 xã, thị trấn của huyện Mường Lát thành 04 khu vực để định hướng phát triển kinh tế như sau:

- Khu vực 1 (gồm 03 xã Trung Lý, Mường Lý, Tam Chung): Tập trung phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng hàng hóa, trở thành ngành sản xuất chính, tạo thu nhập ổn định cho người dân; thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ, phát triển và nâng cao chất lượng rừng; tổ chức nuôi trồng thủy sản tại khu vực lòng hồ thủy điện Trung Sơn.

- Khu vực 2 (gồm 02 xã Quang Chiểu và Mường Chanh): Xây dựng thành nơi sản xuất nông nghiệp tập trung, có vai trò bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ và sản xuất hàng hóa của huyện Mường Lát. Chú trọng phát triển vùng trồng lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; đưa các cây trồng có giá trị kinh tế cao vào sản xuất; chăn nuôi gia súc, gia cầm; bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng các điểm du lịch sinh thái, văn hóa, cộng đồng trên cơ sở khai thác lợi thế về cảnh quan thiên nhiên và văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc.

- Khu vực 3 (gồm 02 xã Pù Nhi và Nhi Sơn): Tập trung phát triển vùng trồng cây ăn quả, cây dược liệu có giá trị kinh tế cao theo quy trình sản xuất sạch, an toàn, gắn với thị trường tiêu thụ; phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm; bảo vệ và phát triển rừng; phát triển thương mại, dịch vụ trên cơ sở lợi thế trục đường quốc lộ 15C, khu vực ngã ba Pù Nhi.

- Khu vực 4 (thị trấn Mường Lát): Tập trung phát triển thương mại, dịch vụ, xây dựng thành trung tâm giao thương hàng hóa, đầu mối của các hoạt động dịch vụ, thương mại của huyện Mường Lát với các địa phương trong tỉnh; quy hoạch, xây dựng cụm công nghiệp để thu hút đầu tư các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, công nghiệp chế biến nông, lâm sản, gắn với phát triển đô thị; phát triển kinh tế của khẩu; phát triển nông nghiệp có giá trị kinh tế cao.

2.2. Khai thác và phát huy hiệu quả tiềm năng đất đai và các yếu tố thuận lợi, đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, hình thành các vùng sản xuất tập trung, các sản phẩm chủ lực.

a) Trong năm 2023, hoàn thành xây dựng Bản đồ nông hóa thổ nhưỡng của huyện Mường Lát, trên cơ sở đó bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu.

b) Lâm nghiệp: Chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trên địa bàn huyện Mường Lát cả trước mắt và lâu dài, nhằm tăng cường vai trò phòng hộ, bảo vệ đất, nước, môi trường sinh thái, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trên địa bàn huyện.

- Ban Cán sự đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với UBND huyện Mường Lát tăng cường quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; rà soát, thống kê diện tích đất trống, diện tích rừng nghèo kiệt để trồng bổ sung, làm giàu rừng; khẩn trương trồng thay thế các cây lâm nghiệp đã thu hoạch, nhất là cây xoan theo Kế hoạch phát triển sản xuất lâm, nông nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh, bền vững huyện Mường Lát giai đoạn 2011 - 2015.

Việc lựa chọn cây lâm nghiệp phải trên cơ sở phân tích nông hóa, thổ nhưỡng, đặc điểm khí hậu của từng khu vực(1). Đối với rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, ưu tiên lựa chọn các cây bản địa phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, có tác dụng phòng hộ tốt. Đối với rừng sản xuất, ưu tiên lựa chọn các loài cây vừa có tác dụng phòng hộ, vừa mang lại hiệu quả kinh tế. Phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ che phủ rừng đạt 80% trở lên; xây dựng được một số vùng nguyên liệu gỗ, dược liệu.

-Tập trung khắc phục, ngăn chặn tình trạng người dân đốt rừng, phá rừng làm nương rẫy. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ người Kinh nghèo tự nguyện trồng, chăm sóc rừng trồng và hộ nghèo nhận khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Mường Lát theo Quyết định số 5402/QĐ-UBND ngày 21/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh; đồng thời, rà soát, thống kê các đối tượng người dân trên địa bàn huyện còn thiếu lương thực, nhưng chưa được hỗ trợ gạo, hiện đang sinh sống, sản xuất trong các khu vực rừng cần bảo vệ, để có giải pháp hỗ trợ gạo, bảo đảm lương thực cho người dân ổn định đời sống, không đốt rừng, phá rừng làm nương rẫy.

-Tiến hành rà soát, quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn huyện; trong đó quy hoạch đất rừng sản xuất để giao cho các hộ dân theo quy định, đồng thời quản lý chặt chẽ, bảo đảm tổ chức sản xuất theo đúng quy hoạch.

c) Chăn nuôi: Đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng hàng hóa, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính của huyện, nhất là những nơi không có đất trồng trọt, hoặc có đất nhưng bạc màu, tầng canh tác mỏng, hiệu quả trồng trọt thấp. Chú trọng phát triển chăn nuôi lợn, bò, trâu, gà, dê, vịt,..., nhất là các con nuôi đặc sản, giống bản địa như: gà Mông đen, gà ri, vịt cổ rụt, lợn Mông, lợn mán, lợn lai rừng, lợn cỏ, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm. Phấn đấu đến năm 2030, đàn lợn đạt 15.000 con, đàn bò đạt 17.000 con, đàn trâu đạt 7.000 con, đàn gia cầm đạt 160.000 con; xây dựng được một số sản phẩm chăn nuôi có thương hiệu.

Hỗ trợ, hướng dẫn các hộ chăn nuôi phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm; áp dụng tiến bộ kỹ thuật, hình thức chăn nuôi phù hợp với điều kiện của từng khu vực, từng đối tượng con nuôi và trình độ, tập quán sản xuất của người dân. Thực hiện cải tạo và nâng cao tầm vóc, chất lượng đàn trâu, bò.

d) Trồng trọt: Trên cơ sở phân tích điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, định hướng sản xuất các cây trồng chính trên địa bàn huyện Mường Lát như sau:

- Cây lúa: Giữ vững ổn định diện tích lúa nước (khoảng 1.120 ha) và diện tích lúa nương hiện có (khoảng 1.070 ha), để bảo đảm lương thực tại chỗ. Đưa các giống lúa có năng suất, chất lượng, phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu vào sản xuất để tăng sản lượng; lựa chọn một số loại giống lúa đặc sản như: nếp Cáy Nọi, nếp Mắc Khẻn, tẻ Mông… phát triển thành sản phẩm Ocop.

-Cây ngô: Ổn định diện tích trồng ngô hiện có (khoảng 800ha); đưa các giống ngô có năng suất, chất lượng vào sản xuất, gắn với đẩy mạnh thâm canh để tăng sản lượng, góp phần bảo đảm lương thực tại chỗ và cung cấp thức ăn cho chăn nuôi.

-Cây sắn: Giảm dần diện tích trồng sắn để chuyển sang các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn.

-Đưa các cây trồng có giá trị kinh tế cao (cây gai xanh,...) vào sản xuất ở các khu vực có điều kiện canh tác tốt thuộc các xã Quang Chiểu, Mường Chanh và thị trấn Mường Lát.

-Cây ăn quả: Mở rộng diện tích trồng cây ăn quả theo quy trình sản xuất sản phẩm sạch, an toàn, chất lượng theo tiêu chuẩn VietGap; ưu tiên các loài cây có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ, phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu như: đào, mận, mơ, chuối, táo mèo, mít,…

-Cây dược liệu: Mở rộng diện tích trồng cây dược liệu dưới tán rừng, ưu tiên các loài cây có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ, phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu như: ba kích, ngải đen, thiên niên kiện, hà thủ ô đỏ, cà gai leo, cây sa chi, cây sa nhân, sâm báo,…

e) Thủy sản: Tận dụng diện tích mặt nước ao, hồ, sông, suối để nuôi trồng thủy sản; phát triển nghề nuôi cá lồng trên khu vực lòng hồ Sông Mã (hồ chứa nước Nhà máy thủy điện Trung Sơn); nghiên cứu nuôi trồng một số giống thủy sản mới, có hiệu quả kinh tế cao.

f) Đa dạng hình thức tổ chức sản xuất; hỗ trợ tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp của huyện Mường Lát.

-Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã; phát huy vai trò định hướng tổ chức sản xuất, hỗ trợ giống, vật tư đầu vào, ứng dụng kỹ thuật và thu mua sản phẩm của nông dân. Xây dựng các mô hình liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.

-UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Hội Nông dân tỉnh và cấp ủy, chính quyền huyện Mường Lát tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản cho hội viên nông dân trên địa bàn huyện; lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu để cung ứng cho người dân sản xuất; xây dựng các mô hình sản xuất để người dân học tập, làm theo.

-UBND tỉnh chỉ đạo Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, các sở, ngành chức năng, UBND huyện Mường Lát xây dựng kế hoạch, phương án hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của huyện Mường Lát; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp, tiểu thương, hệ thống siêu thị thu mua sản phẩm nông nghiệp của huyện Mường Lát.

g) Lồng ghép hiệu quả các nguồn lực để xây dựng xã, thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới; phấn đấu đến năm 2030, có 07/07 xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 01 xã đạt nông thôn mới nâng cao, 02 bản đạt nông thôn mới kiểu mẫu.

2.3. Thu hút và phát triển hợp lý công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động.

Quy hoạch khoảng 10 ha đất công nghiệp tại thị trấn Mường Lát để thu hút các dự án sản xuất công nghiệp sử dụng nhiều lao động, như: may mặc, giầy da, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông, lâm sản... Đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án thủy lợi - thủy điện Tén Tằn; thu hút đầu tư các dự án điện gió tại những khu vực có điều kiện; duy trì và phát triển các sản phẩm công nghiệp hiện có.

Phát triển tiểu thủ công nghiệp, gắn với khôi phục các nghề truyền thống, như: nghề dệt thổ cẩm, nghề đan lát, nghề ủ rượu cần, nghề rèn của đồng bào Mông,... Du nhập và phát triển nghề làm tăm tre, tăm hương đề phát huy lợi thế nguồn nguyên liệu từ các loài cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện.

2.4. Mở rộng dịch vụ, thương mại nhằm thúc đẩy giao thương hàng hóa, cung cấp vật tư, hàng hóa thiết yếu đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của người dân

Phát triển trung tâm thương mại, chợ đầu mối tại khu vực thị trấn Mường Lát, cửa khẩu Tén Tằn; đầu tư xây dựng chợ tại khu trung tâm xã, cụm xã, thị tứ; mở chợ phiên để thúc đẩy mua, bán, trao đổi hàng hóa, sản phẩm và giao lưu văn hóa giữa đồng bào các dân tộc. Tuyên truyền, vận động người dân có sản phẩm hàng hóa mang ra chợ bán, góp phần chuyển đổi tập quán sản xuất từ “tự cung, tự cấp” sang sản xuất hàng hóa theo thị trường. Khuyến khích doanh nghiệp, thương nhân thu mua, đưa sản phẩm hàng hóa sản xuất trên địa bàn huyện Mường Lát về miền xuôi tiêu thụ.

Xây dựng một số điểm du lịch trên cơ sở phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, cảnh quan và giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc. Mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng; nâng cao độ phủ mạng di động, sóng truyền hình vệ tinh đến các bản.

3.Huy động đa dạng và quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của Nhân dân

- Huy động đa dạng các nguồn lực, bao gồm các nguồn vốn của Trung ương, của tỉnh, của huyện và nguồn xã hội hóa để tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên địa bàn huyện. Phân bổ nguồn vốn ngân sách Trung ương (chủ yếu từ các chương trình MTQG) cho huyện Mường Lát để đầu tư các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, đời sống của Nhân dân như: hạ tầng giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, cấp nước, cấp điện; ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách tỉnh theo kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn và kế hoạch vốn hàng năm cho các dự án trên địa bàn huyện Mường Lát, để cùng với nguồn vốn Trung ương tập trung đầu tư các công trình hạ tầng. Huyện Mường Lát bố trí ngân sách địa phương để thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư,...

Cùng với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo UBND tỉnh kêu gọi, vận động các doanh nghiệp, doanh nhân, tổ chức, cá nhân, các nhà máy xi măng trên địa bàn tỉnh ủng hộ kinh phí, vật chất, xi măng để làm đường giao thông và xây dựng các công trình hạ tầng khác trên địa bàn huyện Mường Lát.

- Các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng phải được quản lý, phân bổ, sử dụng hợp lý, hiệu quả, đúng quy định; trong đó, thực hiện lồng ghép, tập trung vốn và các nguồn lực để đầu tư hoàn chỉnh dứt điểm từng công trình, từng dự án, để sớm phát huy hiệu quả đầu tư. Việc đầu tư kết cấu hạ tầng được thực hiện theo thứ tự ưu tiên: (1) Hạ tầng giao thông; (2) Hạ tầng thủy lợi và cấp nước sinh hoạt; (3) Hạ tầng giáo dục; (4) Hạ tầng y tế; (5) Hạ tầng cấp điện; (6) Hạ tầng phát thanh, văn hóa, thể thao. Trong từng lĩnh vực thực hiện như sau:

Hạ tầng giao thông: Ưu tiên đầu tư hoàn chỉnh các tuyến đường đang đầu tư dở dang, các tuyến đường liên bản, kết nối liên xã, liên huyện và tỉnh ngoài để tạo hành lang mới cho sự phát triển; quan tâm đầu tư cho các xã, khu vực đặc biệt khó khăn.

Hạ tầng thủy lợi, hạ tầng cấp nước sinh hoạt: Tập trung đầu tư nâng cấp, hoàn chỉnh các công trình thủy lợi đáp ứng nhu cầu cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp; nâng cấp, sửa chữa các công trình thủy lợi đã xuống cấp, kiên cố hóa hệ thống kênh mương. Đầu tư công trình nước cho 18 bản chưa có công trình nước sinh hoạt; sửa chữa các công trình nước sinh hoạt bị hư hỏng, xuống cấp; kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy cấp nước sạch cho thị trấn Mường Lát.

Hạ tầng giáo dục: Đầu tư cơ sở vật chất, phòng học, trang thiết bị dạy học, nhà ở giáo viên, nhà ở bán trú cho học sinh; ưu tiên đầu tư các điểm trường cơ sở vật chất đã xuống cấp, ở vùng sâu, vùng xa.

Hạ tầng y tế: Đầu tư nâng cấp trạm y tế xã, y tế thôn, bản, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; sớm đầu tư nâng cấp Bệnh viện đa khoa huyện Mường Lát (quy mô 250 giường bệnh), Trung tâm y tế huyện.

Hạ tầng cấp điện: Đầu tư cho 22 bản chưa có điện lưới; nâng cấp hệ thống điện lưới đáp ứng yêu cầu sinh hoạt, sản xuất của Nhân dân trên địa bàn huyện.

Hạ tầng phát thanh, văn hóa, thể thao: Ưu tiên đầu tư hệ thống đài truyền thanh của 06 xã đã hư hỏng (Pù Nhi, Nhi Sơn, Trung Lý, Mường Lý, Quang Chiểu, Tam Chung). Đầu tư thiết chế văn hóa, thể thao gồm: Trung tâm văn hóa - thể thao huyện Mường Lát; 02 Trung tâm văn hóa - thể thao cho thị trấn Mường Lát và xã Mường Chanh; nhà văn hóa ở các bản.

4.Tổ chức di dời dân cư ở những nơi có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quyét và sạt lở đất đến nơi an toàn

Cấp ủy, chính quyền huyện Mường Lát phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng của tỉnh tích cực triển khai thực hiện Đề án sắp xếp, ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét và sạt lở đất tại các huyện miền núi của tỉnh giai đoạn 2021 - 2025, bảo đảm hoàn thành đúng kế hoạch.

Đối với các hộ phải di chuyển, ưu tiên bố trí tái định cư xen ghép tại các khu dân cư hiện hữu trong cùng bản, nhằm sớm bố trí được chỗ ở, bảo đảm tính cộng đồng, hạn chế sự thay đổi về đời sống và sản xuất, tăng quy mô của khu dân cư, tạo cơ sở để đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng. Trường hợp không còn khả năng bố trí xen ghép mới xây dựng các khu tái định cư; việc xây dựng các khu tái định cư phải lựa chọn những nơi an toàn, thuận lợi cho sản xuất và tập quán sinh hoạt của người dân.

5.Nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, mức hưởng thụ văn hóa, tinh thần của người dân; tăng cường đào tạo nghề, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội

Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, trọng tâm là làm thay đổi tập quán sản xuất, sinh hoạt lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; nhanh chóng xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Nâng cấp các điểm bưu điện văn hóa xã; đầu tư nâng cấp hệ thống loa truyền thanh đến các bản, cụm dân cư để tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những mô hình hay, cách làm hiệu quả trong sản xuất, đời sống bằng tiếng dân tộc, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới. Vận động các hộ dân mua sắm tivi, điện thoại di động thông minh để thường xuyên cập nhật, nắm thông tin phục vụ sản xuất và đời sống.

Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, nhất là khu vực đồng bào dân tộc Mông. Tổ chức tuyển dụng đủ số giáo viên còn thiếu so với biên chế được giao, ưu tiên tuyển dụng giáo viên là người có hộ khẩu thường trú tại huyện Mường Lát để làm việc, gắn bó lâu dài với địa phương. Xây dựng cơ sở vật chất để tổ chức học bán trú cho học sinh mầm non và học sinh tiểu học trên địa bàn huyện.

Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân; nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số. Thu hút, tăng cường bác sĩ về làm việc tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện; củng cố đội ngũ cộng tác viên dân số, nhân viên y tế thôn, bản, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng cường phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về dân số - kế hoạch hóa gia đình. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em.

Ưu tiên triển khai các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân; tăng cường mở các lớp đào tạo nghề, tổ chức các phiên giao dịch việc làm, hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho lao động trên địa bàn huyện. Thực hiện đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các chính sách giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội; tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, hỗ trợ người dân vươn lên thoát nghèo. Tăng cường đấu tranh, bài trừ các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy; xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ người nghiện ma túy đi cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện tập trung.

6.Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, khoáng sản, tăng cường bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai

Quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn huyện. Quy hoạch và đầu tư xây dựng các điểm thu gom rác thải tại các bản, các bãi chứa rác tập trung ở xã, thị trấn; xây dựng hương ước, quy ước để xóa bỏ tập quán lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, như: nuôi nhốt gia súc, gia cầm dưới sàn nhà hoặc gần nơi ở; xây dựng thôn, bản, khu phố sạch, đẹp, môi trường sống tốt.

Tăng cường công tác cảnh báo phòng chống thiên tai, sạt lở đất; đầu tư xây dựng hệ thống quan trắc cảnh báo sớm lũ ống, lũ quét và sạt lở đất tại các xã Nhi Sơn, Mường Lý và khu vực xã Tén Tằn trước đây (nay là thị trấn Mường Lát).

7.Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia, trật tự an toàn xã hội

Các lực lượng biên phòng, công an, quân sự, cấp ủy, chính quyền huyện Mường Lát tăng cường phối hợp xây dựng, củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh Nhân dân và biên phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc an ninh biên giới, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị với huyện Sốp Bâu và huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (nước CHDCND Lào). Các lực lượng chức năng của tỉnh và huyện Mường Lát thường xuyên bám sát địa bàn, nắm chắc tình hình, kịp thời đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, chính sách tự do tín ngưỡng để thực hiện hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước; giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc phát sinh, không để xảy ra điểm phức tạp, hình thành “điểm nóng”; tăng cường đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, triệt xóa các đường dây, tụ điểm ma túy, đẩy lùi các tai, tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện.

Đề nghị Bộ Công an tăng cường biên chế công an, nhất là công an làm nhiệm vụ đấu tranh phòng chống ma túy cho chuyện Mường Lát. Rà soát tổ chức, biên chế các tổ, đội liên ngành biên phòng - công an - quân sự đóng trên địa bàn huyện; căn cứ tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ, nghiên cứu tăng cường các tổ, đội liên ngành đến một số địa bàn trọng điểm, phức tạp; đồng thời hỗ trợ các tổ, đội liên ngành về kinh phí, điều kiện vật chất, trang thiết bị để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Cấp ủy, chính quyền huyện Mường Lát phải thường xuyên phối hợp, giao ban định kỳ với các tổ, đội liên ngành để nắm chắc tình hình, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trên địa bàn. Xây dựng, củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng công an xã, dân quân tự vệ, lực lượng bán chuyên trách và các tổ chức quần chúng tự quản ở cơ sở.

8.Tập trung xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị của huyện trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp

Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, của Tỉnh ủy về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Tập trung xây dựng, củng cố tổ chức đảng, các đoàn thể và hệ thống chính trị ở cơ sở. Chú trọng bồi dưỡng kết nạp đảng viên, đoàn viên, hội viên ở các bản, ở các trường trung học phổ thông; hướng dẫn, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, chi đoàn, chi hội; lấy chi bộ, chi đoàn, chi hội làm nơi tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động, định hướng, hướng dẫn đảng viên và Nhân dân sản xuất, phát triển kinh tế. Phát huy vai trò, trách nhiệm của chi bộ trong giáo dục, quản lý, rèn luyện, kiểm tra, giám sát đảng viên; thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đảng viên. Ban Thường vụ Huyện ủy Mường Lát xây dựng và triển khai thực hiện Đề án xây dựng, củng cố tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn huyện.

Đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, am hiểu thực tiễn, tình nguyện công tác lâu dài tại huyện; ưu tiên tuyển dụng con em đồng bào dân tộc thiểu số có đủ điều kiện vào làm việc tại thôn, bản, xã, cơ quan cấp huyện để tạo nguồn cán bộ lâu dài cho địa phương. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ, công chức cấp xã. Thực hiện tốt công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Tiếp tục thực hiện chủ trương bố trí cán bộ biên phòng làm phó bí thư đảng ủy, đồng thời nghiên cứu bố trí cán bộ biên phòng làm chủ tịch UBND các xã biên giới.

Các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở phải đổi mới tư duy, lề lối, tác phong làm việc, bám sát thực tiễn, gần dân, sát cơ sở; chăm lo lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập, đời sống của người dân; giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh trên địa bàn. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Nghiên cứu đổi mới phương thức hoạt động của các đoàn thể ở cơ sở cho phù hợp với tình hình thực tế địa bàn rộng, dân cư sinh sống phân tán. Tăng cường củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền, vận động Nhân dân các dân tộc thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững, xây dựng đời sống văn hóa.

9.Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và hỗ trợ của tỉnh, của các ngành, đoàn thể, các địa phương, đơn vị, của cộng đồng doanh nghiệp, góp phần đưa huyện Mường Lát sớm thoát khỏi huyện nghèo

-Ban Cán sự đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh và các sở, ngành cấp tỉnh rà soát, sửa đổi, bổ sung và đề xuất xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho huyện Mường Lát phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các cơ chế, chính sách về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thu hút đầu tư, hỗ trợ thu mua sản phẩm sản xuất trên địa bàn huyện Mường Lát. Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn UBND huyện Mường Lát triển khai thực hiện nhiệm vụ, nhất là tổ chức sản xuất, đầu tư hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế, giảm nghèo, phòng chống thiên tai. Vận động, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, doanh nhân, người dân đầu tư dự án, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn huyện Mường Lát.

-Các Ban của Tỉnh ủy, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ, hỗ trợ, hướng dẫn huyện Mường Lát xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể và hệ thống chính trị, nhất là tổ chức đảng, đoàn thể ở cơ sở.

-Các địa phương, đơn vị trong tỉnh chủ động phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ huyện Mường Lát phát triển kinh tế, đầu tư nâng cấp hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn huyện.

IV.TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1.Ban Thường vụ Tỉnh ủy thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng và phát triển huyện Mường Lát để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết; phân công một số sở, ngành cấp tỉnh, một số huyện, thị xã, thành phố hỗ trợ, giúp đỡ huyện Mường Lát trong phát triển kinh tế - xã hội.

2.Ban Cán sự đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; phân công công việc vụ thể cho các sở, ngành chức năng thực hiện các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của tỉnh; đề nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành một số cơ chế, chính sách sau đây:

2.1. Trong giai đoạn 2023 - 2025, mỗi năm ngoài nguồn kinh phí đã phân bổ cho các chương trình, dự án trên địa bàn huyện theo kế hoạch, ngân sách tỉnh hỗ trợ thêm cho huyện Mường Lát từ 150 tỷ đồng trở lên; giai đoạn 2026 - 2030 xem xét nâng mức hỗ trợ, để tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.

2.2. Sửa đổi, bổ sung chính sách hỗ trợ gạo cho các hộ dân thực hiện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Mường Lát tại Quyết định số 5402/QĐ-UBND ngày 21/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh, cho phù hợp với tình hình thực tế.

2.3. Ban hành chính sách hỗ trợ mua giống cây trồng, giống con nuôi trên địa bàn huyện Mường Lát.

2.4. Ban hành chính sách hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách tỉnh, cùng với kinh phí Trung ương phân bổ theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ để nâng mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng trên địa bàn 11 huyện miền núi của tỉnh, trong đó có huyện Mường Lát.

2.5. Bố trí nguồn ngân sách tỉnh để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và nâng mức hỗ trợ cho cán bộ, chiến sỹ công tác tại các tổ, đội liên ngành (biên phòng - công an - quân sự) tại các địa bàn huyện Mường Lát, Quan Hóa.

3.Đảng đoàn HĐND tỉnh lãnh đạo HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung, ban hành các cơ chế, chính sách theo đề nghị của UBND tỉnh.

4.Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân huyện Mường Lát triển khai học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết; phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự vào cuộc tích cực, hiệu quả của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nhằm sớm đưa Nghị quyết vào cuộc sống và thực hiện đạt kết quả.

5.Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các huyện, thị, thành ủy quan tâm phối hợp, hỗ trợ, tạo điều kiện cho huyện Mường Lát phát triển sớm đạt mục tiêu đề ra.

6.Văn phòng Tỉnh ủy phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, giám sát, đôn đốc việc triển khai thực hiện Nghị quyết, tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy sơ kết, tổng kết thực hiện Nghị quyết./.

----------------------------------

(1) Xã Tam Chung trồng Thông nhựa, Thông đuôi ngựa, Thông 3 lá, Du sam, Sa mộc, Giổi ăn hạt, Quế.

Xã Mường Lý trồng Thông, Sa Mộc, Luồng.

Xã Trung Lý trồng Thông, Trẩu, Nứa, Vầu, Luồng.

Các xã Pù Nhi, Nhi Sơn trồng Trẩu, Quế, Sa mu dầu, Sa mộc, Đậu thiều, Cọ khiết, Cọ phèn.

Các xã Quang Chiểu, Mường Chanh trồng Luồng, Nứa, Vầu, Trẩu, Lát, Mỡ.

Thị trấn Mường Lát trồng Trẩu, Cọ phè, Cọ khiết, Bồ đề, Đậu thiều.



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name}- {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]