(Baothanhhoa.vn) - Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “sự nguy hại của tư tưởng cơ hội, chủ nghĩa cá nhân nấp dưới danh nghĩa Đảng, danh nghĩa chủ nghĩa xã hội để chống phá Đảng”; là một phạm trù rộng thể hiện ở tất cả các nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đó chính là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên mà Đảng ta đã nhận diện. Đồng thời, Người chỉ rõ nhiệm vụ của công tác kiểm tra trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Tin liên quan

Đọc nhiều

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “sự nguy hại của tư tưởng cơ hội, chủ nghĩa cá nhân” và việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái qua hoạt động công tác kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa hiện nay

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “sự nguy hại của tư tưởng cơ hội, chủ nghĩa cá nhân nấp dưới danh nghĩa Đảng, danh nghĩa chủ nghĩa xã hội để chống phá Đảng”; là một phạm trù rộng thể hiện ở tất cả các nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đó chính là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên mà Đảng ta đã nhận diện. Đồng thời, Người chỉ rõ nhiệm vụ của công tác kiểm tra trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “sự nguy hại của tư tưởng cơ hội, chủ nghĩa cá nhân” và việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái qua hoạt động công tác kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa hiện nay

Đồng chí Trần Quang Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy phát biểu kết luận hội nghị sơ kết công tác kiểm tra, giám sát 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019. Ảnh: Lê Hà

Để góp phần làm sáng tỏ hơn tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “sự nguy hại của tư tưởng cơ hội, chủ nghĩa cá nhân”; từ nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, chúng ta cần làm rõ một số nội dung sau:

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục. Khi cách mạng gặp khó khăn, chỉnh đốn Đảng để cán bộ, đảng viên củng cố lập trường quan điểm, bình tĩnh, sáng suốt, không tỏ ra bị động, lúng túng, bi quan. Ngay cả khi cách mạng trên đà thắng lợi cũng cần đến chỉnh đốn Đảng để xây dựng những quan điểm, tư tưởng cách mạng khoa học, ngăn ngừa chủ quan, tự mãn; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ những biểu hiệu và tác hại suy thoái về tư tưởng chính trị: Trước hết là những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng và yêu cầu đảng viên, cán bộ sửa đổi lối làm việc; phải đấu tranh với những hiện tượng thờ ơ trước những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái: “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng, cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ”. Bác phê phán những đảng viên thiếu lý tưởng cách mạng: “Nếu chỉ có công tác thực tế, mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”. Và phê phán những cán bộ làm việc thiếu khoa học, không thấy được lý luận rất quan trọng cho thực hành: “Trong Đảng ta hiện nay còn có nhiều người chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập”; “có một số đồng chí khác chỉ bo bo giữ lấy những kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng”.

Về tự phê bình và phê bình, Người phê phán những biểu hiện không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật:“Thái độ của một số khá đông cán bộ là: Đối với người khác thì phê bình đúng đắn, nhưng tự phê bình thì quá ôn hòa. Các đồng chí ấy không mạnh dạn công khai tự phê bình, không vui lòng tiếp thu phê bình - nhất là phê bình từ dưới lên, không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của mình. Nói tóm lại: Đối với người khác thì các đồng chí ấy rất mácxít, nhưng đối với bản thân mình thì mắc vào chủ nghĩa tự do”.

Người phê bình và chỉ ra tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong phê bình: “Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển” và tình trạng lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng:“Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù tiểu khí”. Mục đích của phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải trách nhiệm, đúng mực. Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa: “Có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái” . Bên cạnh đó, Bác cũng phê phán nghiêm khắc những biểu hiện duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác: “Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết” và “cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai”; những biểu hiện tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đó là: “Bệnh hiếu danh - Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực” và Bác yêu cầu: “Phải khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, bệnh công thần, óc địa vị. Nó đẻ ra nhiều cái xấu như xích mích, kèn cựa giữa cán bộ và giữa đảng viên, không ai phục ai, không giúp đỡ nhau, không cộng tác chặt chẽ với nhau. Bệnh cá nhân còn dẫn đến tệ bảo thủ, quan liêu, tham ô, lãng phí, sợ khó, sợ khổ, thấy khó khăn thì đâm ra tiêu cực, bi quan”.

Bác chỉ rõ công tác cán bộ: Tình trạng bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích là “Tư túng - kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ. Người có tài, có đức, nhưng không vừa lòng mình đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”. Và Bác yêu cầu phải kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực “Óc bè phái: Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe” và hậu quả rất nguy hại: “Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ”.

Cùng với việc chỉ rõ những biểu hiện và tác hại suy thoái về tư tưởng chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện và tác hại suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Người thẳng thắn phê phán với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Và chỉ rõ các căn bệnh “Óc hẹp hòi, ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình” và “Bệnh tham lam - Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ tự tư, tự lợi. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”.

Người phê phán những cán bộ có biểu hiện:“Ham chuộng hình thức: Việc gì cũng không xét đến cái kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai” và “Bệnh kiêu ngạo - tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang, vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng làm thầy người khác”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ các biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình:“Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc ông tướng, bà tướng ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân”. Và Bác yêu cầu cần phải kiên quyết chống các biểu hiện về thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân: “Phải chống sự mong muốn làm cho được lòng cấp trên, còn ở dưới nhân dân thế nào cũng mặc, không thể vì lợi ích của Đảng, mà chống nhân dân, mà quan liêu, hạ mệnh lệnh”. Những biểu hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên cũng được Người chỉ rõ: “Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó mà họ mắc những sai lầm: Kiêu ngạo chưng diện, hưởng thụ, lãng phí của công tự tư, tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền, bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân. Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần, họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”. Khi đánh giá đảng viên, cán bộ, Bác chỉ rõ: “Bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo mình vì mọi người, mà chỉ muốn mọi người vì mình. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên nhân của những biểu hiện suy thoái có nhiều, nhưng chủ yếu là do:“Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”. Theo Bác cách khắc phục sai lầm, khuyết điểm tốt nhất là: “Một đảng: công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình”.

Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nhiệm vụ của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng phải góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí: Khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, Bác đã nhắc nhở: “Các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân”. Và chỉ rõ khuyết điểm: “Nhiều nơi cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị mà công việc vẫn không chạy”.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải nghiêm ngặt kiểm tra, các địa phương kiên quyết thực hành những nghị quyết của Đảng. Kiên quyết chống lại thói nghị quyết một đường, thi hành một nẻo”. Và Bác khẳng định vai trò, vị trí công tác kiểm tra:“Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Và Người chỉ rõ:“Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn pha. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm, khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra” và “khi mục đích, nhiệm vụ chính trị đã được xác định, nghị quyết đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải được đặt lên hàng đầu. Điều cốt yếu là chuyển trọng tâm từ việc hoạch định chính sách sang việc lựa chọn người lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện”. Và Bác khẳng định: “Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”. Nếu kiểm tra không tốt thì tác hại: “Nghị quyết một đằng, thi hành một nẻo mà Đảng vẫn không hay biết, có kiểm tra mới biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết; mới ngăn chặn sai lầm, sửa chữa thói hư, tật xấu, thải loại những kẻ thoái hóa, biến chất, hoặc những kẻ vụ lợi chui vào trong Đảng”, để tuyển chọn, đề bạt, cất nhắc được cán bộ có đức, có tài.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở với nguy cơ của Đảng cầm quyền, vì mặt trái của quyền lực, tư tưởng cơ hội, cá nhân chủ nghĩa sẽ làm thoái hóa đạo đức, lối sống. Vì vậy, Đảng phải tăng cường công tác kiểm tra để tự chỉnh đốn, ngăn chặn, đẩy lùi và tẩy trừ mọi tệ nạn do thoái hóa, biến chất gây ra. Cũng chính nhờ có sự đôn đốc, kiểm tra của Đảng và nhân dân thì những phần tử xấu đầu cơ vào Đảng:“Sẽ bị lật ra và Đảng sẽ thành trong sạch, kiểu mẫu, thành tâm, thành ý phục sự nhân dân, cách mạng và tất cả các đảng viên mới thành người kiểu mẫu, đoàn kết, giúp đỡ anh em ngoài Đảng”. Bác đã chỉ rõ: “Đảng không phải là tổ chức làm quan phát tài. Có những cán bộ ham danh vọng và địa vị. Chúng ta phải kiên quyết chữa ngay bệnh ấy, mỗi một đảng viên, mỗi một bộ phận, mỗi một lời nói, việc làm, tuyệt đối phải nhằm vào lợi ích của toàn cuộc, lợi ích của toàn Đảng”.

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc thiêng liêng, một văn kiện lịch sử cực kỳ quan trọng, kết tinh tư tưởng, văn hoá, trí tuệ, đạo đức và tâm hồn cao đẹp. Trước hết nói về Đảng, Người căn dặn những vấn đề trọng yếu nhất về xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng” và “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “sự nguy hại của tư tưởng cơ hội, chủ nghĩa cá nhân”; chính là những biểu hiện suy thoái mà Đảng ta đã nhận diện và chỉ rõ từ rất sớm. Vì vậy, phải thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; một trong các nhóm giải pháp ấy là tăng cường và đổi mới công tác kiểm tra, giám sát; góp phần làm cho Đảng thật trong sạch.

Qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Ngay từ khi mới thành lập và quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện và giáo dục cán bộ, đảng viên; nghiêm chỉnh thực hiện các nguyên tắc về sinh hoạt Đảng; tự phê bình và phê bình để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên“vừa hồng”, “vừa chuyên”; nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Đại hội VI của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Phải tạo ra một chuyển biến mạnh mẽ trong việc rèn luyện, nâng cao phẩm chất cách mạng của cán bộ, đảng viên. Trung thực, không giả dối, nói ít, làm nhiều, lời nói đi đôi với việc làm, nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, không giấu giếm khuyết điểm”. Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất, đạo đức; sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng suy yếu; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đọa về đạo đức và lối sống; số ít thoái hoá về chính trị, nhưng hoạt động của họ gây hậu quả hết sức xấu.

Tiếp theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII chỉ rõ: Đảng phải tiếp tục tự chỉnh đốn triệt để hơn, kiên quyết hơn, nhằm giải quyết những vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản trong xây dựng Đảng, tạo bước chuyển biến thật sự trên các mặt chủ yếu: “Ngăn chặn và đẩy lùi một bước quan trọng tình trạng suy thoái, trước hết về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên”, đây là vấn đề sống còn của Đảng, của chế độ.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, đánh giá về tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Và chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”. Việc ban hành các nghị quyết quan trọng nêu trên, một lần nữa khẳng định quyết tâm chính trị của toàn Đảng kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái; là nhiệm vụ vừa cơ bản, cấp bách, vừa thường xuyên, lâu dài; cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; lấy “xây” làm nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài; lấy “chống” làm nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, đột phá trên nguyên tắc giữ vững sự ổn định chính trị để phát triển đất nước.

Để đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương và giải pháp thực hiện; một trong các giải pháp mà Đảng ta chỉ rõ đó là: Tăng cường và đổi mới nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát gắn với công tác đấu tranh phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp phải triển khai thực hiện toàn diện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng; xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhất là vi phạm về suy thoái và tham nhũng; nhiều vụ việc nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện, kiểm tra, kết luận và xử lý nghiêm minh, được nhân dân, cán bộ, đảng viên đồng tình ủng hộ; đã có tác dụng cảnh báo, răn đe, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng; học tập và làm theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã chủ động triển khai thực hiện toàn diện các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng; công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành chủ động, có trọng tâm, trọng điểm. Tập trung kiểm tra, giám sát các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm, những vấn đề bức xúc mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm, như: Công tác cán bộ; quản lý và sử dụng đất đai; đầu tư xây dựng; tài chính công... gắn kiểm tra, giám sát tổ chức đảng với kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên từ tỉnh đến cơ sở, cụ thể: Từ năm 2011 đến tháng 6-2019, các cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp có thẩm quyền đã kiểm tra, xem xét, kết luận và xử lý kỷ luật về Đảng đối với 3.210 đảng viên vi phạm suy thoái, trong đó: 1.416 đảng viên vi phạm suy thoái về tư tưởng chính trị và 1.794 đảng viên vi phạm suy thoái về đạo đức, lối sống; bằng các hình thức: Khiển trách 1.770; cảnh cáo 995; cách chức 126; khai trừ 319. Nhìn chung, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng tiến hành đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, quy trình, thủ tục; khắc phục tình trạng “vùng cấm” và “ hạ cánh an toàn”; đã có tác dụng quan trọng trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, góp phần thúc đẩy thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị; xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái còn có những khuyết điểm, yếu kém như: Nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa đầy đủ về vai trò, vị trí của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; một số tổ chức đảng, đảng viên vi phạm về suy thoái, cá biệt có trường hợp vi phạm kéo dài, nhưng chậm được phát hiện, kiểm tra và xử lý kịp thời; vẫn còn tình trạng kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm; tác dụng phòng, ngừa suy thoái, tiêu cực còn hạn chế.

Để góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đảng viên, cán bộ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa hiện nay, cần triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các nhóm giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã đề ra và tập trung một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức về nguy cơ của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; về vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát trong việc đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái; tiến hành rà soát, bổ sung và ban hành mới các quy định, tạo khuôn khổ pháp lý thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí; cụ thể hóa ban hành quy định về hệ thống tiêu chí và quy trình nhận diện suy thoái làm cơ sở cho việc kiểm tra, xem xét, kết luận và xử lý vi phạm.

Hai là, tăng cường và đổi mới nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong việc phòng, chống suy thoái; nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra, giám sát; làm cơ sở kết luận rõ ràng, xử lý nghiêm minh để ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gắn với công tác đấu tranh phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tập trung kiểm tra, giám sát các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm, như: Công tác cán bộ; quản lý và sử dụng đất đai; đầu tư xây dựng; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Ba là, nâng cao chất lượng thực hiện quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra các cấp với các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có liên quan trong công tác kiểm tra, giám sát phòng, chống suy thoái. Phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác kiểm tra, giám sát phát hiện, xử lý kịp thời để ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Bốn là, thường xuyên kiện toàn, củng cố ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh và xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Tích cực học tập và làm theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa phải ghi nhớ lời Bác dạy: “Ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đường lối, quan điểm của Đảng; phải luôn chú ý nâng cao khả năng chuyên môn, phải cố gắng công tác; phải trau dồi đạo đức, cách mạng. Đặc biệt là phải nâng cao ý thức, phải thật thà phê bình và tự phê bình để làm gương mẫu trong việc chấp hành kỷ luật của Đảng. Phải chí công vô tư, không thiên vị, không thành kiến. Như vậy, mới làm tốt được công tác kiểm tra”.

Trần Quang Đảng

Ủy viên Ban Thường vụ,

Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy




Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng.

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]